SUY NGHĨ
VỀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ
TRONG
LỊCH SỬ CỔ ĐẠI
NƯỚC TA
AN DƯƠNG VƯƠNG,
“GIẶC THỤC”
HAY ANH HÙNG BI TRÁNG?
1
Phan Bội Châu viết trong cuốn “Việt
Nam quốc sử khảo”:
“Nước ta, mọi việc từ thời giặc Thục trở về trước không thể kê
cứu rơ. C̣n kể từ thời Triệu Vũ về sau…” (*).
Tại sao lại gọi An Dương vương Thục Phán
là “giặc Thục”, nhất là khi hai chữ “giặc Thục” đi liền
với “Triệu Vũ”, họ và vương hiệu của tên giặc đích thực Triệu Đà
(Triệu Vũ vương), cách gọi tỏ ư tôn trọng?
Khi đặt vấn đề như thế, không thể không
gây nên một tổn thương tận nơi sâu thẳm nhất của tâm thức người Việt Nam
chúng ta. Nhân vật lịch sử An Dương vương Thục Phán từ rất lâu rồi đă
trở thành một huyền tượng anh hùng dân tộc kháng chiến chống quân xâm
lược của Tần Thuỷ hoàng, chống Triệu Đà xâm chiếm, với bi kịch nước mất
nhà tan. Truyền thuyết về An Dương vương và về mối t́nh đau thương, oan
nghiệt Mỵ Châu – Trọng Thuỷ tự bao giờ đă phủ lên những con người có
thật ấy một lớp sương mù huyền sử với ḷng ngưỡng vọng, chiêm nghiệm vừa
tự hào, vừa bi thương, chua xót của hậu thế.
Nhưng, ngẫm lại, lạ lùng thay, đồng thời
huyền sử cũng khắc sâu vào tâm thức dân tộc Việt Nam một h́nh tượng khác,
hầu như trở thành h́nh tượng có tính chất cao cả hơn – h́nh tượng tín
ngưỡng –, gắn liền với ư thức cội nguồn nguyên sơ nhất, sâu xa nhất và
tự hào nhất. Đó là h́nh tượng Quốc tổ Hùng vương. Phải chăng trong tâm
thức chúng ta tồn tại từ bao giờ một nghịch lí? Không nghịch lí thế nào
được khi chính Thục Phán đă tiêu diệt nước Văn Lang do mười tám đời vua
Hùng cùng dân tộc Lạc Việt dày công xây dựng, và chính vua Hùng thứ mười
tám đă uất hận đến mức thổ huyết rồi gieo ḿnh xuống giếng sâu để tự sát?
Thật ra, trong các bộ chính sử như
Đại Việt sử kí toàn thư (1697), Khâm định Việt sử thông giám
cương mục (1884) và trong dă sử, huyền sử của tâm thức dân gian Việt
Nam, mặc dù xác định mười tám vị Hùng vương là những huyền tượng lịch sử
– tín ngưỡng, nhưng chưa bao giờ có một mảy may nghi ngại về tính chân
thực lịch sử bất di bất dịch. Khác với huyền tượng Quốc tổ, chính sử (gồm
cả phần huyền sử, chỉ xem là ngoại kỉ) được viết từ triều đại nhà Trần
đến nhà Hậu Lê (1697), ngay cả chính sử trong thời Nguyễn từ triều Tự
Đức đến Kiến Phúc (1884), vấn đề về An Dương vương không phải không bị
các sử gia đặt một dấu hỏi khốc liệt nhất, có thể diễn đạt với ngôn ngữ
hiện đại là: An Dương vương, kẻ thù dân tộc hay anh hùng bi tráng của
dân tộc? Và Phan Bội Châu đă nhận định thế nào về An Dương vương,
chúng ta đă biết. Cụ Phan, một người được sinh ra, lớn lên ở xứ Nghệ,
làng quê thuộc huyện Nam Đàn, rất gần với Đền Cuông (Đền Công) thuộc
huyện Diễn Châu (nơi An Dương vương đă đến lúc cùng đường, phải tự chính
tay ḿnh tử h́nh “kẻ thù ngồi sau lưng” là Mỵ Châu, rồi nhảy
xuống biển tự sát; An Dương vương, Mỵ Châu đă được nhân dân và các triều
đại lập đền thờ ở đấy). Dẫu vậy, nhà yêu nước họ Phan này, trong cuốn
sách phục vụ cho nhiệm vụ tuyên truyền cổ động cách mạng (thân Nhật),
Việt Nam quốc sử khảo
(1909), đă quyết liệt định
danh: “giặc Thục”! “Giặc Thục”? Quả thật, chưa bao giờ chính sử
nước ta trong thời phong kiến lại ghi vào sách sử hai chữ vừa dứt khoát
vừa khủng khiếp đến thế, mặc dù chính sử ngày xưa đă có nêu câu hỏi về
An Dương vương, và cũng chỉ dám “dĩ nghi truyền nghi” (giữ sự
nghi ngại để truyền lại sự nghi ngại [chưa khảo cứu được])? C̣n sử học
ngày nay vẫn nêu lại vấn đề, và kết luận An Dương vương là nhân vật lịch
sử xứng đáng để vinh danh, không kém ǵ việc vinh danh các vua Hùng dựng
nước. C̣n phía văn học sử, truyền thuyết An Dương vương lại càng toả
sáng. Như thế, phải chăng không c̣n tồn tại nghịch lí?
2
Cũng như văn học sử, lịch sử chính trị –
xă hội của bất ḱ nước nào trên thế giới cũng gồm có hai phần chính,
tương ứng với hai thời ḱ phát triển chính. Đối với văn, đó là phần dân
gian (văn truyền miệng) và phần bác học (văn viết). Đối với sử, đó là
phần được gọi bằng đặc trưng của nó, dă sử hay huyền sử,
và phần sử thành văn, được ghi chép, b́nh luận bởi các sử gia.
Sử thành văn gồm cả thời có văn tự, trước thời Trần rất xa; ở các
giai đoạn về sau, hầu hết là do các sử gia cũng là chứng nhân đương thời
ghi chép.
Vấn đề An Dương vương không một ai không
khẳng định là thuộc về dă sử hay huyền sử, mặc dù đă vượt qua mức độ
thần thoại để đạt tới mức độ truyền thuyết, mặc dù thư tịch cổ Trung Hoa
có ghi chép sơ lược. Do đó, cũng như vấn nạn huyền sử của bất ḱ nước
nào, trong đó c̣n tồn đọng nhiều ức đoán mơ hồ, lung linh rất đẹp nhưng
cũng khá gây hiệu ứng nghi ngại!
Sử thần Ngô Sĩ Liên viết: “Chuyện rùa
vàng đáng tin chăng? […] Đến như truyện Mỵ Châu rắc lông ngỗng chỉ đường,
th́ chưa chắc đă có. […] Thế th́ việc ma quỷ làm đổ thành cũng đáng tin
sao? […] Đến như sử chép An Dương vương bại vong là do nỏ thần bị đổi
lẫy, […] đều là mượn lời để cho vật trở thành thiêng mà thôi” (1).
Nhưng vấn đề nghiêm trọng không phải là
ở đó. “Giặc Thục”, nhức nhối là ở chỗ này.
Toàn thư
ghi rơ: “Cuối thời Hùng vương, vua
có con gái gọi là Mỵ Nương, nhan sắc xinh đẹp. Thục vương nghe tiếng,
đến cầu hôn. Vua muốn gả, nhưng Hùng hầu can rằng: ‘Họ muốn chiếm nước
ta, chỉ lấy việc hôn nhân làm cớ mà thôi’. Thục vương v́ chuyện ấy để
bụng oán giận”. […]“Mị Nương đă lấy Sơn Tinh, Thục vương tức giận, dặn
lại con cháu phải diệt Văn Lang mà chiếm lấy nước. Đến đời cháu là Thục
Phán có dũng lược, bèn đánh lấy nước”. […] “Quân Thục kéo sát đến nơi,
[vua Hùng – ct.] hăy c̣n say mềm chưa tỉnh, rồi thổ huyết chảy
[nhảy? – ct.] xuống giếng chết, quân lính quay giáo đầu hàng Thục
vương” (2).
Khâm định Việt sử thông giám cương
mục (1884), một bộ sử lớn
thứ hai, sau Toàn thư, cũng chép
lại sự kiện trên không khác, sau khi đă khảo cứu kĩ lưỡng. Ở phần mục
(thuyết, diễn giải) hầu như y hệt, và ngay mấy ḍng cương
(tiêu đề) lại càng cô đọng thật rơ ràng: “Thục vương Phán đem quân
sang xâm. Hùng vương nhảy xuống giếng chết. Nước Văn Lang mất”; ở
phần cương kế tiếp: “Thục vương đă lấy được nước Văn Lang, đổi tên
nước là Âu Lạc, đóng đô ở Phong Khê” (3).
Không c̣n nghi ngờ ǵ nữa, nước Văn Lang
của dân tộc ta, dưới sự thống lĩnh của triều đại Hùng vương có công dựng
nước, đă bị xâm lược và bị mất nước vào tay vua nước Thục! Như thế, Thục
Phán (An Dương vương) không phải “giặc Thục” là ǵ!
Vấn đề gây nhiều tranh căi ấy, thật ra,
mấu chốt là ở chỗ “nước Thục”, “vua, họ Thục, huư Phán, người đất Ba
Thục” (3). Chính Quốc sử quán triều Nguyễn, trong bản tấu nghị đầu
tiên lúc mới nhận chỉ dụ khởi thảo (ngày 10 tháng 6 năm Tự Đức thứ 9
[11. 7. 1856]) cũng cho là: “An Dương vương là người nước ngoài, nhân
dịp người ta suy yếu, trước th́ cậy sức mạnh kiêm tính nước người…” (4).
Tự Đức không khẳng định về khía cạnh đó, nhưng cũng ra chỉ dụ: “…
Công việc của An Dương vương cũng chuẩn cho chép vào phụ lục, để tiện
khảo cứu đính chính” (5). Tự Đức chỉ nêu lí do: nhà Thục của An
Dương vương dẫu không quá ngắn ngủi, nhưng vỏn vẹn mỗi một đời vua duy
nhất. Cuối cùng, ở bản Phàm lệ, Quốc sử quán triều Nguyễn xác
định không xem An Dương vương là chính thống, mặc dù vẫn gọi là vương
như Toàn thư, “duy lúc chết th́ chép chữ ‘hoăng’, để phân biệt
với triều chính thống” (6). Như vậy, ở Toàn thư (1697), An
Dương vương được sử gia nước ta xếp thành một kỉ chính thống, “kỉ nhà
Thục” (7), tương đương với “kỉ Hồng Bàng thị” trước đó, các
“kỉ nhà Lê”, “kỉ nhà Lư”… sau đó; nhưng ở Cương mục (1884),
An Dương vương không c̣n là chính thống nữa, chỉ là phụ chép mà thôi.
Căn cứ nào để xem là chính thống hay phi
chính thống, nếu không xác định rơ là “họ muốn chiếm nước ta” (Toàn
thư, sđd.), là “người nước ngoài”, “người đất Ba Thục”,
“kéo quân sang xâm” (Cương mục, sđd.), tức là quân xâm lược.
Xem rất đơn giản nhưng lại khá rắc rối là ở chỗ, cả Cương mục lẫn
Toàn thư đều xác định như thế nhưng lại mâu thuẫn ở cách định danh:
chính thống hay phi chính thống. Tại sao có sự rắc rối này?
Trong bài “Việt giám thông khảo tổng
luận” (1514) của Lê Tung, được đặt trang trọng ở phần đầu sách
Toàn thư (1697), ghi rơ: “An Dương vương, phía tây th́ dời
sang Ba Thục, phía nam th́ diệt vua Hùng vương, đóng đô ở Loa
Thành, giữ nước Âu Lạc, nhờ được nỏ móng rùa, đánh lui quân nhà Tần,
quen mui đánh thắng, yên vui sinh kiêu, quân Triệu đến đánh mà cơi bờ
không giữ được” (8). Xin nhấn mạnh: “đánh lui quân nhà Tần”,
vào lúc Tần Thuỷ hoàng c̣n tại vị, và giết được tướng giặc là Đồ Thư. Đó
là một sự nghiệp rất đáng kể. Và phải chăng v́ thế, Toàn thư châm
chước xếp là chính thống? Tuy nhiên, riêng về chiến công trực tiếp tiêu
diệt tên tướng giặc Đồ Thư đó, phải chăng một phần là do sự ngộ nhận về
địa danh và địa giới thuộc về địa danh, vốn luôn thay đổi một cách rất
rắc rối? Phải chăng người Việt ở xứ Việt khác (tuy cũng thuộc Bách Việt)
trực tiếp tiêu diệt được tướng giặc Đồ Thư, chứ chưa hẳn là do người Âu
Việt và Lạc Việt nước ta (cũng thuộc Bách Việt)? Ở sự kiện khác, cả
Toàn thư lẫn Cương mục đều chép, ngay từ năm Thục An Dương
vương thứ 44 (214 tr. c. ng.), khi Nhâm Ngao và Triệu Đà vốn là quan
tướng nhà Tần (Trung Hoa) được Tần Thuỷ hoàng cử sang xâm chiếm các vùng
đất phương nam, “Ngao và Đà nhân đó mưu xâm chiếm nước ta” (9) và
bốn năm sau, “Tân măo, năm thứ 48 (210 tr. c. ng.), (Tần Thuỷ hoàng
năm thứ 37). Mùa đông, tháng 10, Tần Thuỷ hoàng mất ở Sa Khâu. Nhâm Ngao
và Triệu Đà đem quân sang xâm lấn. Đà đóng quân ở Tiên Du, Bắc Giang
đánh nhau với vua. Vua đem nỏ thần ra bắn, Đà thua chạy” (9). Lúc
này, không c̣n nghi ngờ ǵ nữa, An Dương vương đánh thắng Triệu Đà, tức
là đánh thắng nhà Tần. Cương mục (1884) cũng chép y hệt như thế,
kể cả việc “người Bách Việt bấy giờ đều rủ nhau núp vào trong rừng
rậm, không ai chịu để cho người Tần dùng” (10); cùng việc “lại
ngầm bầu những người tài giỏi lên làm làm tướng, đánh nhau với người Tần,
giết được hiệu uư Đồ Thư” (10) như trên đă nói.
Nhưng cho dù có chiến công đánh bại quân
binh nhà Tần (Đà và Ngao) vào năm 210 tr. c. ng. như vậy, hậu thế vẫn có
thể đặt lại vấn đề: An Dương vương Thục Phán vẫn là quân xâm lược, vẫn
là “giặc Thục”; dẫu đánh thắng Đà và Ngao (đang là quan tướng
viễn chinh của nhà Tần), th́ cũng chỉ là quân xâm lược đánh thắng
quân xâm lược, “giặc Thục” đánh thắng giặc Đà, giặc Ngao (thuộc
hạ của giặc Tần Thuỷ hoàng đầu sỏ) mà thôi. Xin in đậm tám chữ trên để
nhấn mạnh điều này.
Nếu theo chuỗi luận cứ đó, phải thừa
nhận Phan Bội Châu rất đúng đắn khi gọi An Dương vương là “giặc Thục”,
mặc dù quê hương của cụ thờ phụng An Dương vương và Mỵ Châu – Trọng Thuỷ
tại Đền Cuông (núi Dạ Sơn, xă Cao Xá, huyện Diễn Châu, Nghệ An).
Thật ra, chắc hẳn Phan Bội Châu chỉ đọc
được Toàn thư cùng các sách sử khác, nhưng chưa được đọc Cương
mục cùng các sách sử được Quốc sử quán tham khảo, đối chiếu, thể
hiện trong bộ sử này.
3
Vấn nạn nhức nhối vẫn c̣n đó, khi chưa
xác minh được An Dương vương Thục Phán có phải là con cháu vua nước Ba
Thục và nối ngôi làm vua nước Ba Thục ấy hay không, và đích thực nước Ba
Thục có phải là một nước ở vùng đất Tứ Xuyên, Trung Hoa hay không. Nếu
đúng như thế, trách ǵ Phan Bội Châu không gọi An Dương vương Thục Phán
là “giặc Thục”!
May thay, Cương mục ghi rơ lời
cẩn án: “Ba Thục với Văn Lang c̣n cách Tuấn Điền (nay thuộc Vân
Nam
[Trung Quốc – ct.]) không liền đất
nhau. […] Việc Thục vương sau đây đều là hư truyền cả, mà chưa khảo cứu
được”; “Nước Thục, từ năm thứ 5 đời Thận Tĩnh vương nhà Chu (316 tr. c.
ng.), đă bị nhà Tần diệt rồi, làm ǵ c̣n có vua nữa? Huống chi từ Thục
đến Văn Lang, c̣n có đất Kiện Vi (nay thuộc Vân Nam), đất Dạ Lang, đất
Cùng, đất Tác và đất Nhiễm Mang (những đất này xưa là đất mọi rợ ở về
phía tây và nam, nay thuộc Vân Nam), cách nhau hàng hai, ba ngàn dặm, có
lẽ nào Thục vượt qua được các nước ấy mà sang đánh lấy nước Văn Lang? Sử
cũ đă chép “cháu Thục vương là Phán”, lại chép “An Dương vương họ Thục,
huư Phán, người đất Ba Thục”, hoặc giả ngoài cơi Tây Bắc giáp với
nước Văn Lang, c̣n có họ Thục khác mà Sử cũ liền nhận là
Thục vương chăng? Chứ nếu bảo Thục vương đây lại là người Ba Thục th́
không phải” (11).
Tôi muốn nhấn mạnh một lần nữa: “Chứ
nếu bảo Thục vương đây lại là người Ba Thục th́ không phải”. Đó là
một lời khẳng định dứt khoát.
Vậy An Dương vương là người nước nào? Là
người Việt chăng? Nhưng là Việt nào trong Bách Việt? Câu trả lời: Âu
Việt (Tây Vu). Cho nên, khi sáp nhập Âu Việt (Tây Vu) với Lạc Việt (quốc
hiệu Văn Lang), tên nước trở thành Âu – Lạc (Âu Việt + Lạc Việt).
Lâu nay, hầu như trong tâm thức người Việt Nam chúng ta đều mặc nhiên
khẳng định như thế. Đó chỉ là sự sáp nhập hai lănh thổ của hai bộ tộc
Việt gần gũi nhau về mọi mặt, vốn là đồng bào (huyền thoại Mẹ Âu Cơ
và Trăm trứng). Nhưng sách sử nào chứng thực đều ấy, ngoài quốc hiệu?
Toàn thư viết: “Vua đă thôn tính được nước Văn Lang, đổi quốc
hiệu là Âu Lạc”; “đóng đô ở Phong Khê (nay là thành Cổ Loa)” (12). Cương
mục viết: “Bấy giờ nhà vua đă lấy được Văn Lang, đổi quốc hiệu là
Âu Lạc, đóng đô ở Phong Khê” và chua thêm: “Phong Khê: Bây giờ là
thành Cổ Loa, huyện Đông Ngàn, tỉnh Bắc Ninh” (13). Ngoài chính sử,
không những các đền thờ An Dương vương ở nhiều địa phương từ xa xưa đến
nay c̣n được tôn tạo, hương khói, mà chính di tích thành Cổ Loa vẫn c̣n
tồn tại với những mũi tên đồng của nỏ thần được giới khảo cổ khai quật,
xác định niên đại (bằng phương pháp C14) và trưng bày.
Như thế, vấn đề đă rất rơ ràng. Tuy
nhiên, trong thập niên sáu mươi của thế kỉ trước (XX), cuộc tranh luận
về vấn đề An Dương vương lại nổ ra. Đào Duy Anh (14) dựa vào Giao
Châu vực ngoại kí, Hoa dương quốc chí (q. 3), và ức thuyết
của Trần Tu Hoà trong cuốn sách của ông, Việt Nam cổ sử cập ḱ dân
tộc văn hoá chí nghiên cứu (xuất bản ở Côn Minh, Trung Hoa, 1944) để
nêu lên giả thuyết của ḿnh. Theo Đào Duy Anh, ở cuốn thứ nhất, tác giả
(?) cho rằng An Dương vương là Thục Vương tử. Cuốn thứ hai, viết về vua
nước Thục ở Tứ Xuyên (Trung Hoa) mất nước, bị giết chết bởi quân Tần, cả
tướng phó, thái tử Thục cũng thế (chấm dứt 12 đời vua Thục). Cuốn thứ ba,
của Trần Tu Hoà, không viết khác hơn, nhưng có thêm chi tiết: “con
cháu vua Thục có lẽ đă phải hướng về nam mà phát triển vào miền khí hậu
ôn hoà, sản vật giàu thịnh, rồi cuối cùng chiếm được nước Văn Lang”
(14). Đào Duy Anh tán thành ức thuyết của Trần Tu Hoà, đồng thời
chứng minh thêm bằng cách dựa vào một truyền thuyết thơ lưu hành trong
nhân tộc Tày, trong đó có nhân vật Thục Phán. Ông lược thuật: “Ở phía
nam Trung Quốc, đầu sông Tả Giang, về gần nước Văn Lang, có bộ Nam Cương
hùng cứ một phương. Bộ này do Thục Chế An Trị vương đứng đầu, đóng đô ở
Nam B́nh (cước chú: Theo
‘Địa danh đại từ điển Trung Quốc’, châu Nam B́nh hiện nay ở trong nước
ta)” (14); “Thục Chế làm vua 60 năm, thọ 95 tuổi. Con là Thục Phán mới
lên 10 tuổi” (14). Và xác
định: “Do truyền thuyết trên ấy, chúng ta có thể thấy rằng bộ Nam
Cương do Thục Phán làm vua là tương đương với miền Cao Bằng từ Bảo Lạc
lấn sang cả một phần phủ Thái B́nh tỉnh Quảng Tây của Trung Quốc. Nếu
thế th́ có thể nói rằng con cháu vua nước Thục mà Thục Phán là đại biểu
cuối cùng đă từ miền Tứ Xuyên và Vân Nam vào nước Nam Cương của truyền
thuyết theo đường sông Lô, sông Gầm, rồi tràn sang miền thượng lưu sông
Cầu và sông Hữu Giang” (14). C̣n vấn đề ngôn ngữ, huyết thống nhân
tộc, vốn là mấu chốt nhất? Đào
Duy Anh viết: “Những người con cháu nước Thục ấy cũng là người
Việt tộc mà sử sách xưa gọi là Quỳ Việt. Với cái
đại thế phân bố và di động của những nhóm Việt tộc từ lưu vực sông Dương
Tử về nam th́ rất có khả năng rằng những nhóm Việt tộc ở miền Vân Nam
Quảng Tây, đặc biệt là nhóm Tây Âu ở lưu vực sông Tây Giang vốn có quan
hệ xa gần với nhau. Như thế th́ những người con cháu nước Thục đó khi
đến miền Tả Giang và Hữu Giang tất gặp ở đó những người Tây Âu mà
ngôn ngữ và văn hoá không phải xa lạ với họ. […] Miền
nam sông Tả Giang và lưu vực sông Hữu Giang cùng với miền thượng lưu các
sông Lô, sông Gầm, sông Cầu là địa bàn sinh tụ của những bộ lạc Tây Âu
họp thành bộ lạc Nam Cương mà Thục Phán là tù trưởng tối cao…” (14).
Về Hùng vương và nước Văn Lang, Đào Duy
Anh viết: “C̣n miền trung lưu và hạ lưu sông Hồng từ Yên Bái, miền hạ
lưu các sông Lô, sông Cầu, miền lưu vực sông Đáy và lưu vực sông Thái
B́nh, miền trung lưu và hạ lưu sông Mă và sông Lam cho đến Hoành Sơn,
đều là địa bàn sinh tụ của bộ lạc liên hiệp Lạc Việt mà quân trưởng tối
cao được truyền thuyết gọi là Hùng vương”
của
Thục Phán. Ông kết luận, cả truyền thuyết nhân tộc Tày ngày nay lẫn
truyền thuyết của cộng đồng dân tộc Việt Nam đều nhất trí như thế (14).
Thật ra, hiện nay đang c̣n tồn tại nhiều
ức đoán và giả thuyết tuy tương đồng về kết luận nhưng vẫn khác về sự
thể với Đào Duy Anh, tất nhiên lại càng đối nghịch hẳn với cách gọi của
Phan Bội Châu là “giặc Thục”.
GS. Nguyễn Tài Cẩn là một nhà ngôn ngữ
học uy tín, có nhiều công tŕnh nghiên cứu rất có giá trị. Ông đưa ra
một giả thuyết về cuộc chiến thắng của bộ tộc có gốc tích Việt Chứt ở
Tây Bắc Việt đối với bộ tộc khác (Thái Kadai) trên cơ sở nghiên cứu lịch
sử ngữ âm tiếng Việt, để lập nên nước Âu Lạc (15).
“Địa bàn cư trú ban đầu của cư dân
nói tiếng Proto Việt Chứt là vùng kéo dài từ khu vực miền núi Hà Tĩnh –
Quảng B́nh – Quảng Trị sang đến Trung Lào” (15); “Rồi từ đây họ lại tản
dần ra, chủ yếu là đi ra hướng bắc, men theo các vùng thượng du…” (15);
“Cố nhiên, lúc ban đầu, khi mới du cư ra miền Bắc, cư dân Proto Việt
Chứt vẫn chủ yếu sống ở miền núi. Cứ liệu
‘Lĩnh
nam chích quái’ c̣n phản ánh rơ điều đó. Ở truyền thuyết họ Hồng Bàng,
ngoài việc nói đến chuyện 50 người con theo mẹ ở lại vùng núi, lập nước
Văn Lang và đóng đô ở địa bàn rừng đồi trung du Phong Châu, lại c̣n
nhiều chi tiết miêu tả cụ thể đời sống cư dân hồi đó…” (15). Như vậy,
trái ngược với hướng di dân Lạc Việt từ lưu vực phía nam sông Dương Tử,
cụ thể nhất là từ Phúc Kiến (Trung Hoa) sang, theo nhiều nguồn tư liệu
xưa nay! GS. Nguyễn Tài Cẩn c̣n dựa vào bản thần tích, “chuyện một
vua Hùng từ miền Trung ra, kết hôn với một người con gái họ Ma mà Bùi
Văn Nguyên có hồi đă giới thiệu” (15). Và từ vùng đất Tổ đó, sau khi
đă hoà huyết, hoà nhập ngôn ngữ, sau khi đă làm quen với trồng trọt,
chăn nuôi, canh tác lúa nước, “th́ có một bộ phận cư dân Việt Chứt
phía Bắc rời bỏ vùng đồi núi để toả về hướng đồng bằng, sinh sôi phát
triển mạnh ở vùng châu thổ sông Hồng. Sự mở rộng địa bàn này được
phản ảnh trong sử sách qua việc Văn Lang trở thành Âu Lạc, qua việc
Phong Châu nhường bước cho Cổ Loa. Về mặt ngôn ngữ, may
mắn cũng có cứ liệu hé cho chúng ta thấy cái nguồn gốc chung của cư dân
Việt Chứt ở vùng đồi núi miền ngược và cư dân Việt Chứt ở đồng bằng Bắc
bộ đó” (15). Vẫn theo GS. Nguyễn Tài Cẩn, “đó là điều tạo tiền đề
cho việc h́nh thành cái nôi của vùng Kinh sau này” (15). Tất nhiên,
để tiếp nhận giả thuyết này, phải hiểu thêm về quá tŕnh h́nh thành vùng
châu thổ sông Hồng về mặt tự nhiên (lưu lượng phù sa bồi đắp) và về mặt
nhân tạo (sự khai hoang, san lấp ao hồ, đầm phá; hệ thống đê điều, chống
lũ, lấn biển). Quá tŕnh ấy đi đôi với quá tŕnh người Việt Chứt từ miền
núi tiến xuống đồng bằng sông Hồng như GS. Nguyễn Tài Cẩn đă tŕnh bày
trong cuốn sách, cụ thể là ở những đoạn trích bên trên (16).
Sở dĩ tôi phải trích dẫn dài ḍng như
vậy là để làm sáng tỏ ư tưởng rất cần thiết đối với vấn đề gốc gác huyết
thống, ngữ ngôn của An Dương vương Thục Phán, mặc dù GS. Nguyễn Tài Cẩn
không nêu đích danh: “Sự mở rộng địa bàn này được phản ảnh trong sử
sách qua việc Văn Lang trở thành Âu Lạc, qua việc Phong Châu nhường bước
cho Cổ Loa” (15).
Hầu như Trần Trọng Kim, Đào Duy Anh
không chú ư và t́m hiểu sâu về khía cạnh ngôn ngữ khi xác định nguồn gốc
dân tộc của Thục Phán. C̣n sự kiến giải của GS. Nguyễn Tài Cẩn, ít ra về
khía cạnh này, ông đă làm sáng tỏ. Nhà ngôn ngữ học đă xác định: “Ở
địa bàn Đông Nam Á hiện có những ngôn ngữ thuộc nhiều họ khác (như
họ Thái – Kadai, họ Hán – Tạng, họ Nam đảo, họ Ấn – Âu) nhưng đó đều
là những ngôn ngữ mới di chuyển đến về sau. Có thể nói, ở địa bàn
này, họ Nam Á mới chính là họ ngôn ngữ bản địa, tồn tại lâu đời nhất”
(17). Tất nhiên, theo ông (và tư liệu ông sử dụng): cũng
có loại ngôn ngữ cùng họ Nam Á ở Đông Ấn Độ, Nam Trung Quốc (Vân Nam),
đặc biệt là ngôn ngữ Lai mới được phát hiện gần đây ở Quư Châu (có thể
thuộc tiểu chi Việt Chứt hay gần Việt Chứt) (17); nhưng chắc chắn các
nhân tộc Tày, Nùng hiện nay ở Tây Bắc Việt Nam đều thuộc họ ngôn ngữ
Thái – Kadai. Đó là những nhân tộc từ nơi xa (tuy không xa xăm lắm) di
dân đến, và diễn ra cuộc tiếp xúc với cư dân từ Trung di cư ra Bắc vốn
thuộc họ ngôn ngữ Proto Việt Chứt. Xin trích dẫn cụ thể: “Bộ phận cư
dân Proto Việt Chứt du cư ra Bắc lại phải có những mối quan hệ tiếp xúc
mới, mà trước tiên là tiếp xúc với những cư dân nói ngôn ngữ thuộc họ
Thái – Kadai (như tổ tiên của người Tày, người Nùng v.v…)” (18).
Tuy vậy, GS. Trần Quốc Vượng, một nhà
khảo cổ học, với cái nh́n địa – văn hoá, lại khẳng định: “Nhưng rồi
ông Lê Sơn đă phát hiện và kể lại truyền thuyết ‘Cẩu chúa chèng vua’ ở
Cao Bằng, trong đó vua Thục Phán và vị vua cha tiền nhiệm Thục Chế là
người Âu Việt Tày cổ ở ngay Cao Bằng. Phát hiện vốn văn học quư giá này
khiến ta nhớ lại lời suy đoán của các vị sử quan triều Nguyễn cho là cái
nước Thục của An Dương vương không thể ở miền Tứ Xuyên – Ba Thục mà chắc
hẳn ở một nơi đâu đó trong miền đông [tây? – ct.] bắc nước ta hiện nay
thôi”; “Tôi đă điều tra tại chỗ về huyền tích này ở Cao Bằng năm 1976,
và gần đây nhà Thái học Cầm Cường lại phát hiện được một dị bản của
huyền tích này ở người Thái Tây Bắc th́ thấy rơ cái cốt lơi huyền tích
Tày – Thái này là có thực. Từ Đào Duy Anh đến thế hệ chúng tôi đều khẳng
định thành phần tộc người và văn hoá Tày cổ trong cấu trúc cư dân –
văn hoá Việt cổ – Âu Lạc. Cao Bằng với các mỏ đồng –
thiếc, theo tôi đóng vai tṛ cực ḱ quan trọng trong thời đại văn hoá –
văn minh Phùng Nguyên – Đông Sơn” (19).
Có điều, ai cũng biết rằng việc thiên đô
từ Phong Châu (Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc; Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ) về Cổ
Loa (Đông Anh, thủ đô Hà Nội) là một cuộc hoà nhập của trung du với đồng
bằng châu thổ, mà đồng bằng châu thổ Bắc bộ là nơi sinh tụ của người
Việt cổ (người Việt – Kinh) chứ không phải là địa bàn của người Tày cổ.
Do đó, nếu An Dương vương không phải là người Việt cổ hay người Việt
cổ đă Tày cổ hoá th́ sẽ không có sự tiến về đồng bằng Bắc bộ đó.
Từ những lĩnh vực nghiên cứu khác nhau (sử
học, khảo cổ học; địa lí học; ngôn ngữ học), chúng ta có thể tự rút ra
kết luận về gốc tích nhà Thục (An Dương vương).
Sử trung đại, cận đại và hiện đại
vốn khá rơ ràng với vô số chứng tích, tư liệu đương thời. Nhưng khác với
sử thành văn được ghi chép tức thời ấy,
phần dă sử, huyền sử, truyền thuyết
lịch sử vốn được bao phủ nhiều
lớp sương mù của tư duy thần thoại cổ sơ, mặc dù vẫn có cốt lơi sự thật
lịch sử. Sương mù huyền sử bao phủ nhiều lớp cũng phải tan đi. Sự thật
lịch sử cổ sơ được mă hoá bằng những h́nh tượng ẩn dụ phải được giải mă.
Vả lại, thư tịch cổ, di tích tín ngưỡng, khảo cổ, nghiên cứu ngôn ngữ
học lịch sử, mặc dù có chỗ khác nhau, thậm chí trái ngược nhau về chi
tiết của sự thể, nhưng nh́n chung không ai có thể gọi An Dương vương
Thục Phán là “giặc Thục”.
Có một điều rất trái khoáy là Phan Bội
Châu lại không gọi Triệu Đà (Vũ vương) là giặc xâm lược, mà vẫn
gọi là Triệu Vũ với hàm ư tôn trọng, xếp nhà Triệu vào hạng chính
thống trong lịch sử Việt Nam, trong khi Toàn thư, Cương mục và sử
sách Trung Hoa đều ghi rất rơ: Triệu Đà đích thực là người Hán,
làm quan cho nhà Tần thời Tần Thuỷ hoàng, vâng lệnh Tần, trực
tiếp giương cờ nhà Tần xâm lược nước ta; và sau khi Tần Thuỷ hoàng chết,
Triệu Đà đă thực hiện ư đồ cát cứ, xâm lược Âu Lạc để sáp nhập vào Nam
Hải thành nước Nam Việt, rồi tự xưng đế, nhưng lại thần phục nhà Hán (Trung
Hoa).
Thế mà…
Xin trích dẫn lại và cũng chỉ bàn trong
giới hạn bốn chữ: “giặc Thục”, “Triệu Vũ”: “Nước ta, mọi việc từ thời
giặc Thục trở về trước không thể kê cứu rơ. C̣n kể từ thời Triệu Vũ về
sau…” (20).
Nhưng ở một chương khác sau đó, Phan Bội
Châu viết: “Từ khi Thục An Dương vương (-257) vào làm vua nước ta, đă
mở đường cho nước ngoài đến cướp chủ quyền nước ta. Kế đến Triệu
Uư Đà (-179) người Chân Định nhà Hán luôn kiêm cả đất nước ta. Người
nước ta ngu dại không biết, cam tâm cúi đầu theo mà tôn là đế, là vương”
(20).
Đó là nguyên văn của Phan Bội Châu. Biết
thế về Triệu Đà, sao Phan Bội Châu không gọi hẳn Triệu Đà là giặc Triệu,
giặc Đà – một tên giặc đích thực! Và thật ra, trong văn cảnh cụ thể (đoạn
trích ở cước chú (20) ), Phan Bội Châu đă sử dụng từ giặc để chỉ kẻ đă
chia đất, chia dân, chia quyền cho bọn giặc ngoại xâm mà thôi. An Dương
vương đă chia đất, chia dân, chia quyền cho Triệu Đà nên bị Phan Bội
Châu gọi là giặc Thục.
C̣n vấn đề quan trọng, An Dương vương là
ai, gốc tích thế nào, ta đă rơ, ở mức độ khả quan nhất. Tuy vậy, cố
nhiên là không thể so sánh mức độ xác thực về tư liệu, về sự thật lịch
sử của sử cổ đại (dă sử, huyền sử) với sử trung đại, cận đại và hiện đại
(Toàn thư; Cương mục; Đại
Nam thực lục tiền biên, chính biên…).
Và từ đó, ta có thể trả lời
câu hỏi: An Dương vương là kẻ thù dân tộc (“giặc Thục”) hay là anh hùng bi tráng của dân tộc Việt
Nam chúng ta?
Một đoạn thơ trong bài Tâm sự của Tố Hữu
hầu như không một học sinh phổ thông trung học nào lại không biết:
Tôi kể ngày xưa chuyện Mỵ Châu
Trái tim lầm chỗ để trên đầu
Nỏ thần vô ư trao tay giặc
[TXA. ing. & iđ.]
Nên
[đến?] nỗi cơ đồ đắm biển sâu.
4
Tuy thế, ta vẫn chưa thể trả lời thật
rốt ráo và đầy sức thuyết phục nếu không t́m hiểu nguyên nhân nảy sinh
cuộc chiến tranh mà Thục Phán tiến hành, tấn công vào đất nước Lạc Việt
của vua Hùng và hệ quả của nó. Đó là chiến tranh thôn tính, sáp nhập
(Âu Việt + Lạc Việt) mặc dù khởi đầu là bởi ḷng uất hận truyền kiếp
do bị chối từ lời cầu hôn như Toàn thư và Cương mục đă ghi.
Nguyên nhân ấy thực chất là tầm thường, khởi từ ḷng thù hận, lại cộng
thêm tham vọng bành trướng, chiếm hữu.
Thế th́, cho dù như đă khẳng định, Thục
Phán là người Việt Chứt hoặc Việt Chứt đă Tày cổ hoá (thậm chí là Quỳ
Việt thuộc đại gia đ́nh Bách Việt đă Việt Chứt hoá, Tày cổ hoá), Thục
Phán cũng đáng bị chê trách.
Chỉ có thể trả lời: Chiến tranh giữa các
bộ tộc hậu ḱ công xă nguyên thuỷ hay giữa các quốc gia phong kiến sơ
khai để tiến tới sự sáp nhập, h́nh thành một quốc gia phong kiến phát
triển vững mạnh là một tất yếu lịch sử. Không thể cứ măi là t́nh
trạng bầy đàn, thị tộc, hôn nhân đồng huyết (mặc dù phong tục nhuộm răng
ăn trầu và sự tích Trầu cau tuyệt vời tốt đẹp đă có từ thời vua Hùng).
Phải có một số lượng cư dân nhất định, một diện tích lănh thổ nhất định,
một chính phủ nhất thống nhất định mới có thể lập quốc (lập nước)
và vệ quốc (giữ nước). Tất nhiên mọi thứ đều có cái ngưỡng của nó,
theo quy luật “lượng đổi, ắt chất đổi”. Nếu vượt quá ngưỡng ấy, th́
chiến tranh để sáp nhập, để đủ điều kiện lập quốc (dựng nước) và vệ quốc
(giữ nước) trở thành chiến tranh bành trướng, bá quyền, chiến tranh đế
quốc chủ nghĩa. Tất nhiên, nói như thế cũng phải nhấn mạnh: phải xét
từng trường hợp trong điều kiện lịch sử – cụ thể.
Cho nên, dẫu xuất phát từ ḷng thù hận
bị từ chối lời cầu hôn, từ tham vọng thôn tính, chiếm hữu, cuộc chiến
tranh Thục Phán tiến hành, về mặt khách quan, vẫn là cuộc chiến tranh có
ư nghĩa, tác dụng tích cực: Hoà nhập tuyệt đối về huyết thống, lănh thổ
để trở thành một nước Âu Lạc nhất thống. Về ngữ ngôn, tôi thiên về ư
kiến, từ một cội nguồn ngôn ngữ Việt Chứt, họ Nam Á, sau một quá tŕnh
bị chi biệt hoá (Âu Việt ↔ Lạc Việt, tức là Tiên ↔
Rồng), trở lại duy nhất hoá ở mức độ cao hơn (với sự tôn trọng âm
sắc địa phương).
Nhà yêu nước Phan Bội Châu mặc dù có sai
lầm về kiến thức sử học cụ thể (mấy ai tránh khỏi [!])hoặc bị ảnh hưởng,
bị chi phối bởi quan điểm thân Hán, Đại Hán chủ nghĩa, nhưng cụ Phan vẫn
thấy rơ chân lí lịch sử khái quát, thể hiện ở nhận định cụ thể này:
“Các triều Đinh, Lê, Lư, Trần, Lê đều có thay họ đổi ḍng. Nhà này mất
th́ nhà kia lên. Đó gọi là nhà. […] C̣n như […]Nguyễn Quang Trung đế là
Huệ đối với Nguyễn và Lê là có tội, nhưng đối với nước ta đều là những
người đại hiếu tử, là bậc Thượng đẳng công thần” (21). Hoàng Trọng
Mậu riêng ở chỗ này lại phê vào cuốn sử của Phan Bội Châu rất xác đáng:
“Có tội đối với một nhà, mà lại có công đối với nước. Lời bàn thiên cổ
thật là thoả đáng!” (21).
Trong trường hợp An Dương vương, ta có
thể vừa vận dụng đồng thời vừa phản bác nhận thức của Phan Bội Châu,
rằng: An Dương vương Thục Phán tuy có tội với riêng hoàng tộc Hùng
vương, nhưng lại có công với đất nước, nhân dân Âu Lạc (Việt Nam), trong
điều kiện lịch sử – cụ thể cách đây khoảng 2.200 năm. Các sử
gia Toàn thư, Cương mục, chừng như vô h́nh trung
nhưng thật sự có ư thức sâu sắc, họ đều chép sử, b́nh luận sử theo tiêu
chí ấy (21), tuy vẫn c̣n khập khiễng ở chỗ này, chỗ khác.
Tp. HCM., khởi thảo vào
buổi chiều ngày mười lăm tháng sáu,
hai không không tư (hai
mươi tám tháng tư, Giáp thân, năm thứ tư công nguyên Hoà B́nh);
viết xong lúc mười giờ
bốn mươi ba phút, ngày 17. 06. HB4 (30. 04 Giáp thân HB4)
TRẦN
XUÂN AN
Cước chú
của bài An Dương vương, “giặc Thục” hay anh hùng bi tráng?
(*) Xin xem cước chú (20). TXA. in đậm (iđ).
(1) Đại Việt sử kí toàn thư (gọi tắt là Toàn thư), bản in nội
các quan bản (1697), bản dịch (3 tập), tập 1, Nxb. Văn hoá – Thông tin,
2003, tr. 186 – 187 (NK. [ngoại kỉ], q. I, tờ 10b – 11b).
(2) Toàn thư, sđd., tập 1, tr. 176, 177, 179 (NK., q. I, tờ
4a, 5a, 6a). TXA. chua thêm (ct.).
(3) Khâm định Việt sử thông giám cương mục (1884) (gọi tắt là
Cương mục), tiền biên và chính biên, bản dịch (2 tập), tập 1, Nxb. Giáo
Dục, 1998, tr. 78, 79 (Tb.I, 7 – 8).
(4) Cương mục, sđd., tập 1, tr. 23 (Tng. 5). TXA. in đậm (iđ.).
(5) Cương mục, sđd., tập 1, tr. 30 (Dch. II, 10).
(6) Cương mục, sđd., tập 1, tr. 34 – 35 (Phl. 2 – 3).
(7) Toàn thư, sđd., tập 1, tr. 179 [NK., q. I, tờ 5b].
(8) Toàn thư, sđd., tập 1, tr. 150 (Tl. [tổng luận], tờ 3b –
4a). TXA. iđ..
(9) Toàn thư, sđd., tập 1, tr. 184 [NK., q. I, tờ 8b]. Xin
xem thêm cước chú 3 về sự rắc rối địa danh và địa giới Tượng Quận của
dịch giả Ngô Đức Thọ, sđd., tr. 183.
(10) Cương mục, sđd., tập 1, tr. 81 (Tb. I, 11).
(11) Cương mục, sđd., tập 1, tr. 74 (Tb. I, 4), tr. 79 (Tb.
I, 8). TXA. iđ. & ct.. Trong cuốn Việt
Nam sử lược (1921), [Nxb.
Tân Việt tái bản, in lần thứ 7, 1964], Trần Trọng Kim cũng đă xác định
không khác với Quốc sử quán triều Nguyễn (1856 – 1884). Ông đặt nguyên
một đề mục, “Gốc tích nhà Thục”, tŕnh bày, và kết luận: “Chắc hẳn nhà
Thục tức là một họ nào độc lập gần ở nước Văn Lang, chứ không phải là
nhà Thục bên Tàu. Sách ‘Khâm định Việt sử’ [Cương mục – TXA. ct.] cũng
bàn như thế”. Nhiều ư kiến hiện nay: một nước Thục ở vùng Tây Bắc (Cao
Bằng hiện nay, và vùng giáp giới Cao Bằng, hiện nay thuộc Trung Quốc).
Người viết bài này (TXA.) cho rằng, ở trường hợp này có yếu
tố ư niệm hoá địa danh, từ một địa danh với vùng địa lí (địa bàn) có
thật, dần dần chuyển hoá thành ư niệm – biểu tượng trong tâm thức; đại
để cũng như thành ngữ “tết Maroc” có nghĩa là “viển vông; xa xôi; không
bao giờ đến ngày ấy”, hoặc như khi người Nam bộ gặp người có giọng nói
với âm sắc Bắc Trung bộ th́ cứ bảo đó là “người Huế”, mặc dù họ thừa
biết Huế chỉ là địa danh thường gọi để chỉ một cố đô, vốn là kinh đô
dưới triều Nguyễn, nay là thành phố tỉnh lị của tỉnh Thừa Thiên, hoặc
như trường hợp dùng hai chữ “bọn Tây”, dần dần đến cuối thế kỉ XX, người
ở nước ta hiểu đó là từ ngữ chỉ người Pháp, chứ không phải chỉ người Tây
Ban Nha như lúc ban đầu hay người một nước nào đó ở châu Âu (Phương Tây).
Về địa danh Ba Thục cũng vậy, đó chỉ là ư niệm địa lí – biểu tượng hoá.
Hơn nữa, Toàn thư (sđd., tr. 175 [NK., q. 1, 3a]) viết về cương vực nước
Văn Lang: “đông giáp biển Nam Hải, tây đến Ba Thục, bắc đến hồ Động Đ́nh,
nam giáp nước Hồ Tôn, tức nước Chiêm Thành, nay là Quảng Nam”; Lê Tung
cũng viết trong bài “Việt giám thông khảo tổng luận…” (Toàn thư, sđd.,
tập 1, tr. 150 [Tl., 3b – 4a]): “An Dương vương, phía tây th́ dời sang
Ba Thục, phía nam th́ diệt vua Hùng Vương, đóng đô ở Loa Thành, giữ nước
Âu Lạc”. Như thế, trong ư niệm – biểu tượng địa lí, Ba Thục là vùng đất
sát liền, cận kề biên giới nước ta thời Hùng vương, chứ không phải chính
xác là nước Ba Thục ở Tứ Xuyên (tại Trung Hoa) đă bị nhà Tần tiêu diệt
từ năm c̣n tồn tại nhà Chu (316 tr. c. ng.), và An Dương vương cũng
không phải là hậu duệ Thục vương nước Ba Thục ở Tứ Xuyên (Trung Hoa), mà
chính là người Việt Chứt đă Tày cổ hoá.
Ngoài ra, trong sử cổ nước ta (Đại Nam thục lục chính biên
chẳng hạn) cũng thường dùng từ “thục man”, để phân biệt với “hoang man”,
“cống man”; “thục man” có khi được viết hoa chữ Thục ở bản dịch chữ quốc
ngữ abc. Mặc dù mặt chữ Hán của hai chữ Thục trong Thục Phán và Thục man
khác nhau, nhưng hiện tượng sai biệt hoá, chuyển hoá từ chữ này sang chữ
khác trong khi sử dụng là không có ǵ lạ (như chữ Chỉ trong từ Giao Chỉ
có ít ra là hai mặt chữ Hán khác nhau, nghĩa khác nhau, chẳng hạn). Theo
đó, Thục Phán chính là vua của xứ Thục Man hoặc nước Thục Man, thuộc
vùng Tây Bắc nước ta.
(12) Toàn thư, sđd., tập 1, tr. 179 [NK., q. I, tờ 5b – 6a].
(13) Cương mục, sđd., tập 1, tr. 79 (Tb. I, 8). Dịch giả Ngô
Đức Thọ cước chú: “Hiện nay, Cổ Loa thuộc huyện Đông Anh, TP. Hà Nội”.
(14) Đào Duy Anh, Đất nước Việt
Nam qua các đời, Nxb.
Thuận Hoá, 1997, tr. 24 – 27. TXA. iđ.. Chú thích (14) chung cho các
đoạn trích dẫn tiếp theo từ cuốn sách này. Lập luận của Đào Duy Anh cũng
vẫn như thế ở cuốn sách khác của ông: Lịch sử Việt
Nam,
Nxb. Văn hoá – Thông tin tái bản, 2002, tr. 54 – 56. Tuy nhiên, Đào Duy
Anh lại suy đoán, giả định sai lạc với chính sử, khi đưa ra khả năng thứ
hai: Thục Phán chỉ lật đổ Hùng vương sau khi đă thắng giặc Tần (Trung
Hoa)!
(15) GS. Nguyễn Tài Cẩn, Giáo tŕnh Lịch sử ngữ âm tiếng Việt
(sơ thảo), Nxb. Giáo Dục, 1995, tr. 319 – 324. TXA. iđ.. Về thuật ngữ
Thái – Kađai, theo GS. Trần Quốc Vượng: “Những cư dân Tày – Thái cổ vừa
gần gũi Nam Á vừa gần gũi Nam Đảo mà có học giả (Karl Paul Benedict) gọi
là Kadai hay là Nam Thái (austro – Thái) có lẽ là chủ nhân chính của văn
hoá Phùng Nguyên” (Việt Nam, cái nh́n địa – văn hoá, Nxb. Văn hoá dân
tộc & Tạp chí Văn hoá Nghệ thuật xb., 1998, tr. 50).
(16) GS. Trần Quốc Vượng, Việt
Nam, cái nh́n địa – văn
hoá, Nxb. VHDT. & Tạp chí VHNT. xb., 1998, tr. 44 – 45, 49: “Sau thời
Plêitoxen cách đây khoảng 10.000 – 7.000 năm, băng hà Wiirm cuối cùng đă
tan, dồn nước về các đại dương, gây nên hiện tượng biển tiến đầu hay /
và giữa thời toàn tân Hôlôxen. […] Nó đánh dấu một sự ‘hoang vắng’ của
trung du trong suốt thời gian từ khoảng trên dưới 4.000 năm cách ngày
nay… Đến một thời đổi khác của trung du, diễn ra trong khoảng trên dưới
4.000 năm cách ngày nay… Sau 4.000 năm là thời Hôlôxen muộn (4.000 –
2.000 năm), đây là thời biển lùi. Đồng bằng châu thổ Bắc Bộ thứ hai được
thành lập, cố nhiên là cũng phủ đầy rừng. Con người hậu ḱ Đá Mới, từ
miền núi cao Vân Quư – Quảng Tây tiến xuống, từ miền hải đảo biển khơi
ngược sông tiến vào, từ dải Trường Sơn dọc Trung Bộ Việt Nam – Trung Hạ
Lào tiến ra… hội tụ ngày một đông đảo ở vùng trung du giáp đồng bằng.
Đấy là sự hội tụ con người và văn hoá lần thứ hai ở miền trung du Vĩnh
Phú – Sơn Tây. Ta có thể gọi đó là sự hội tụ Phùng Nguyên” (sđd., tr. 44
– 45); “Người ta đă đề cập đến những nhân tố cư dân – ngôn ngữ – văn hoá:
Môn Khơme cổ, Tày – Thái cổ, Mă Lai cổ và thậm chí cả Tạng – Miến cổ
trong sự sinh thành phức hệ cư dân – ngôn ngữ – văn hoá Việt cổ bắt đầu
từ Đất Tổ trung du” (sđd., tr. 49).
(17) GS. Nguyễn Tài Cẩn, sđd., tr. 10; và ở tr. 316. TXA. iđ.:
“Căn cứ những thành tựu mới nhất công bố trong khoảng vài mươi năm lại
đây, hiện nay có thể kết luận: tiếng Việt là một ngôn ngữ thuộc nhóm
Việt Mường, tiểu chi Việt Chứt, nằm trong khối Việt Katu thuộc khu vực
phía Đông của ngành Môn Khmer, họ Nam Á [TXA. in nghiêng (ing.) & iđ.]”;
“tiểu chi Việt Chứt (Việt Mường + Pọng Chứt = Việt Chứt)”.
(18) GS. Nguyễn Tài Cẩn, sđd., tr. 321.
(19) GS. Trần Quốc Vượng, sđd., tr. 17 – 19, 47, 104 –105,
118 – 122, 131, 142 – 143… TXA. iđ.. GS. Trần Quốc Vượng c̣n chú thích
thêm: Nguyễn Siêu, tác giả “Phương Đ́nh dư địa chí” (bản dịch Ngô Mạnh
Nghinh, Sài G̣n, 1960), tỏ ư không công nhận An Dương vương là con vua
nước Ba Thục.
(20) Phan Bội Châu, Những tác phẩm Phan Bội Châu, tập I [gồm
Việt Nam vong quốc sử & Việt Nam quốc sử khảo], Văn Tạo chủ biên và các
dịch giả, Nxb. KHXH., 1982, tr. 200 – 201, 210. Xin trích một đoạn Việt
Nam quốc sử khảo
để xem nhận định của Phan Bội Châu đúng hay sai, và đúng, sai ở mức độ
nào: “… Sở dĩ gọi là nước v́ có chủ quyền, có nhân dân, có đất đai. Nếu
ba thứ ấy c̣n th́ nước c̣n là nước, ba thứ ấy mất th́ không phải là nước
nữa. Lấy một trong ba thứ ấy đem cho người ngoài th́ gọi là giặc của
nước; lấy cả ba thứ ấy đem tất cho người ngoài th́ là đầu sỏ của giặc
nước.
[…]
Nước ta, mọi việc từ thời giặc Thục trở về trước không thể kê
cứu rơ. C̣n kể từ thời Triệu Vũ về sau, ta kể được ba người giặc của
nước:
Hồ Quư Ly cướp ngôi nhà Trần và để cầu nhà Minh sắc phong cho,
y đă cắt 59 thôn của châu Lộc B́nh cho lệ thuộc vào phủ Tư Minh của nhà
Minh.
Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê, sợ nhà Minh hỏi tội, đă lấy
hai châu Thạch Tích, Niêm Lăng và bốn động Cổ Sâm, Tư Lẫm, Kim Lặc, Liễu
Cát hiến cho nhà Minh. Bản án kết tội bọn ấy nên ghi là: “Lấy đất đai
của nước, nhân dân của nước, tặng người ngoài, tội đáng chém!”. Chúng nó
lấy lời ǵ để biện bạch được?
C̣n một người nữa th́ là một mẹ một con thuộc bản triều [Từ
Dũ – TXA. ct.]. V́ ham sống yên phận đă đem một lúc cả ba thứ nói trên
dâng cho lũ giặc. Thật là một tên giặc đầu sỏ lớn của nước ta” (+). (sđd.,
tr. 200 – 201)
Tất nhiên không phải Phan Bội Châu viết điều ǵ cũng đúng và
càng không phải cụ viết ǵ cũng sai. Đó là chưa nói đến phương pháp viết
sử với các thao tác cần thiết, nhất là thao tác trích dẫn tư liệu gốc.
(+) Đó là nhận thức của Phan Bội Châu vào năm 1908 (khi xuất
bản “Việt Nam
quốc sử khảo”), tức là sau 04 năm, kể từ năm xuất bản “Việt Nam vong
quốc sử”. Phan Bội Châu viết như trên là do sự phản hồi của công luận
bấy giờ. Như thế, Phan Bội Châu đă phủ nhận “Việt
Nam
vong quốc sử” về mục “nguyên nhân mất nước”. Rất tiếc là mặc dù có phần
nào gần với sự thật lịch sử hơn, nhưng nhận thức vào năm 1908 của Phan
Bội Châu cũng c̣n thiên kiến và cực đoan. Xin xem thêm những cuốn sách
Trần Xuân An viết về đề tài này: 1) Phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường
(1824 – 1886), truyện – sử kí – khảo cứu tư liệu lịch sử, trọn bộ 4 tập,
2002 – 2003. 2) Tiểu sử biên niên Ḱ Vĩ phụ chính đại thần Nguyễn Văn
Tường – “kẻ thù lớn nhất của chủ nghĩa thực dân Pháp” (từ Đại Nam thực
lục, rút gọn), dạng niên biểu, sách dẫn chi tiết, phần I, 2001. 3)
Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886), “những người trung nghĩa từ xưa, tưởng
không hơn được”, khảo luận và phê b́nh sử học, 2002 & 2003… Website Giao
Điểm:
http://www.giaodiem.com
http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_III05/505_index.htm
(21) Phan Bội Châu, sđd., tr. 200 – 201. Phan Bội Châu cũng
như nhiều nhà sử khác chỉ thấy Quang Trung Nguyễn Huệ có tài thao lược,
đánh tan 20 vạn quân Thanh nhân cớ nhà Lê cầu viện mà sang cướp nước ta,
nhưng không thấy rằng, việc quân Thanh kéo sang cướp nước ấy là hệ quả
của cuộc binh phạt, đánh dẹp cả chúa Nguyễn (Đàng Trong) lẫn vua Lê –
chúa Trịnh (Đàng Ngoài), do chính ba anh em Tây Sơn tiến hành, trong đó
Nguyễn Huệ nổi bật lên, gánh vác sứ mệnh lịch sử. Thử truy lại nguyên
nhân, nếu không có phong trào Tây Sơn, làm ǵ có việc quân Thanh mượn cớ
kéo sang! Do đó, Nguyễn Huệ có trách nhiệm phải giải quyết. Và Nguyễn
Huệ đă giải quyết thành công, lập nên chiến tích. Theo tôi, lẽ ra, chính
xác hơn, là nhận định rằng, Nguyễn Huệ đáp ứng được yêu cầu khách quan
của lịch sử nước ta vào các thế kỉ XVI – XVIII là phải thống nhất đất
nước, thoát khỏi hoạ phân liệt giữa Đàng Trong – Đàng Ngoài, và giải
quyết tốt hệ quả… Nói khái quát hơn, nhân vật lịch sử nào, lực lượng
lịch sử nào đáp ứng được yêu cầu lịch sử bức thiết, chính đáng phát sinh
từ hiện thực khách quan của xă hội (của nhân dân), của Đất nước, chính
nghĩa thuộc về họ; và mặc dù có tham vọng cá nhân nhưng tham vọng cá
nhân ấy phù hợp với yêu cầu lịch sử th́ họ vẫn xứng đáng được ghi công.
Cố nhiên, nếu tài cao, đức trọng, toàn tâm toàn ư và hành động hoàn toàn
v́ nhân dân, v́ Đất nước, v́ nhân loại, v́ chính nghĩa, giải quyết tốt
những hệ quả đau thương, bi tráng do t́nh huống lịch sử tạo ra, lại càng
vĩ đại.