SUY NGHĨ
VỀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ
TRONG
LỊCH SỬ CỔ ĐẠI
NƯỚC TA
TRƯNG TRẮC, NỮ VƯƠNG VĨ ĐẠI,
VÀ TRƯNG NHỊ, NỮ TƯỚNG KIỆT XUẤT,
TRONG LỊCH SỬ CHỐNG NGOẠI XÂM CỦA DÂN
TỘC
1
Vài nét về thời đại, những tư liệu
gốc về Hai Bà Trưng và cuộc khởi nghĩa giành độc lập, tự do cho dân tộc
Sau 97 năm dưới ách xâm lược và thống
trị của nhà Triệu – Hán (từ Triệu Đà [207 tr. c. ng.] cho đến Thuật
Dương vương Triệu Kiến Đức [111 tr c. ng.]), nước ta lại phải chịu sự
thống trị của nhà Tây Hán (Trung Hoa) thêm 151 năm (111 tr. c. ng. – 40
s. c. ng.). Trong hơn một thế kỉ rưỡi ấy, Thạch Đái là người được Hán
triều bổ nhiệm làm châu thái thú đầu tiên (Tân mùi, 110 tr. c. ng.).
Ít năm sau (-106), y vẫn giữ quyền cai trị chín quận thuộc Giao Chỉ bộ,
đổi chức danh là thứ sử. Dưới quyền y, c̣n có chín quận thái
thú (quan mục) cai trị chín quận. Sau khi Đái chết, Chu Chương thay.
Cuối đời Vương Măng (soán đoạt ngôi vua nhà Hán, 8 s. c. ng. – 23 s. c.
ng.), thứ sử Giao Chỉ bộ là Đặng Nhượng.
Những thái thú người Hán cai trị các
quận, Toàn thư (1) và Cương mục (2) ghi lại tên họ: Tích
Quang (thái thú quận Giao Chỉ (3)), Đỗ Mục (?) (*), Nhâm Diên (thái thú
quận Cửu Chân (4) trong 4 năm)… Trong đó, Tích Quang và Nhâm Diên là hai
thái thú đă thi hành thủ đoạn mị dân, được thư tịch cổ Trung Hoa
khá đề cao. Thực ra, để biện minh cho sự xâm lược, bóc lột, chúng sử
dụng chiêu bài khai hoá (đem văn minh Hoa Hạ sang truyền bá với mục đích
đồng hoá); và để chứng tỏ sự khai hoá, không ǵ bằng thủ đoạn xuyên tạc,
bôi nhọ nhân dân hai quận Giao Chỉ và Cửu Chân là mọi rợ (ngoại di, nam
man) (5).
Đến năm Giáp ngọ (34 s. c. ng.), ở Trung
Hoa, hoàng đế nhà Hán là Quang Vũ Lưu Tú (niên hiệu Kiến Vũ). Bấy giờ,
thái thú Giao Chỉ mới nhậm chức là Tô Định. Tô Định là một tên thực dân
cổ đại, “cai trị tham lam, tàn bạo” (6) khét tiếng. Đây là tên
thái thú gian ác nhất trong những tên thái thú gian ác. Nhân dân ta rên
xiết dưới sự bóc lột độc ác của y.
Trước t́nh cảnh đó, hậu duệ của ḍng dơi
vua Hùng không thể ngồi yên, câm lặng, chịu đựng. Phải kháng chiến, ấy
là ư chí của nhân dân và của nhiều người trong hàng ngũ Lạc hầu, Lạc
tướng. Trong đó, nổi bật nhất lại là một người nữ: Trưng Trắc (vốn có
tên tiếng Việt: Trứng Chắc), và em gái là Trưng Nhị (Trứng Nh́).
Tuy nhiên, sách Hậu Hán thư, ở mục Mă Viện truyện, lại ghi
nhận với nhăn quan của bọn xâm lược: “Người đàn bà ở Giao Chỉ tên là
Trưng Trắc với em tên là Trưng Nhị làm phản (chú [thích – ct.]:
Trưng Trắc là con gái Lạc tướng huyện Mê Linh, là vợ của người huyện Chu
Diên tên là Thi Sách, rất hùng dũng. Thái thú Giao Chỉ là Tô Định
lấy pháp luật mà ràng buộc, Trắc oán giận mà làm phản), đánh chiếm quận.
Người Man Di các quận Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố đều hưởng ứng, cướp
chiếm hơn 65 thành ở Lĩnh ngoại. Trắc tự lập làm vua. Bấy giờ (vua Hán)
cho Viện làm phục ba tướng quân, lấy Phù Lạc hầu Lưu Long làm phó, đốc
xuất bọn Lâu Thuyền tướng quân Đoàn Chí đánh Giao Chỉ ở Phương Nam. Quân
đến Hợp Phố th́ bị bệnh chết. Chiếu cho Viện kiêm thống xuất binh của
Chí. Bèn theo dọc bờ biển mà tiến, theo núi phát đường hơn ngh́n dặm.
Năm 18 [niên hiệu Hán – Kiến Vũ – ct.] quân đến trên Lăng Bạc,
đánh phá được giặc, chém được hơn ngh́n đầu, đầu hàng đến hơn vạn người.
Viện đuổi theo bọn Trưng Trắc đến Cấm Khê, đánh thắng nhiều lần. Giặc
tan chạy. Năm sau, tháng giêng, chém Trưng Trắc, Trưng Nhị, gởi
đầu về Lạc Dương (chú: ‘Việt chí’ nói rằng: Trưng Trắc khởi binh, đóng
đô ở huyện Mê Linh. Kịp bị Mă Viện đánh, chạy vào suối Kim Khê, hai năm
sau bắt được”) (7).
Không thể không sử dụng tư liệu gốc của
Trung Hoa, nhưng các sử gia nước ta vẫn viết theo nhăn quan của người
Việt Nam. Người mà sử gia Trung Hoa gọi là “giặc” ấy, chính là vị
nữ anh hùng bậc nhất của dân tộc ta (và cũng rất hiếm có trong lịch sử
thế giới).
Sách của người Việt, trong đó, đặc biệt
có Thiên Nam ngữ lục, phần ngoại kỉ, viết: “Tô Định ngờ
Thi Sách làm phản, lại ghét Thi Sách lấy cả hai chị em họ Trưng, bèn sai
binh đến thành Chu Diên, toan bắt Thi Sách và Trưng Trắc. Thi Sách đem
quân chống cự, nhưng thế yếu, bèn khiến Trưng Trắc và Trưng Nhị rút quân
về giữ Hát Môn. Đêm ấy, Thi Sách bị quân Tô Định giết. Trưng Trắc bèn
cùng với Trưng Nhị xướng nghĩa, nổi quân để trả thù chồng” (7).
Toàn thư
viết ở phần đề mục: “Vua rất hùng
dũng, đuổi Tô Định, dựng nước, xưng vương, nhưng v́ là vua đàn bà, không
thể làm nên công tái tạo” (8).
Cương mục
viết: “Năm Canh tí (40 s. c. ng.). (Hán,
năm Kiến Vũ thứ 16). Tháng 2, mùa xuân. Người con gái quận Giao Chỉ là
Trưng Trắc khởi binh đánh đuổi thái thú Tô Định; tự lập làm vua. Vua vốn
họ Lạc, lại có một tên họ nữa là Trưng. Là con gái quan Lạc tướng huyện
Mi Linh, quận Giao Chỉ, và là vợ Thi Sách người huyện Chu Diên, bà là
người rất hùng dũng. Lúc bấy giờ thái thú Tô Định cai trị tham lam và
tàn bạo, giết mất chồng bà. Bà bèn cùng với em gái là Trưng Nhị
dấy quân, đánh hăm chỗ châu lị. Tô Định phải chạy về
Nam Hải. Quân bà đi đến đâu, như gió
lướt đến đấy. Các dân tộc Man, Lư ở Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố đều
hưởng ứng theo. Bà tự lập làm vua, đóng đô ở Mi Linh. Các thứ sử, thái
thú ở quận Giao Chỉ đều chỉ bảo
toàn được ḿnh thôi” (9).
“Năm Tân sửu (41 s. c. ng.). (Hán,
năm Kiến Vũ thứ 17). Tháng 12, mùa đông. Nhà Hán phong Mă Viện làm phục
ba tướng quân, Lưu Long làm phó tướng, đốc xuất bọn Lâu Thuyền tướng
quân là Đoàn Chí, sang đánh Trưng vương. Nhà Hán cho rằng Trưng thị tự
xưng làm vua, đem quân đánh các thành ấp, làm cho các nơi biên giới bị
khổ sở, bèn bắt các đất Trường Sa, Hợp Phố và Giao Chỉ sắm sửa đủ xe,
thuyền, sửa sang cầu đường, khơi thông các khe suối, chứa sẵn lương thóc;
[…]” (9).
Năm sau (42 s. c. ng.), tháng 3, mùa
xuân, “Mă Viện ven theo đường biển tiến quân, qua núi đốn cây, đi hơn
ngh́n dặm đến Lăng Bạc, đánh nhau với quân Trưng vương. Trưng vương thấy
thế quân bên Hán mạnh nhiều, tự nghĩ quân ḿnh ô hợp, sợ không thể chống
lại được. Quân của bà cũng cho rằng bà là đàn bà, không địch nổi với Hán;
v́ thế quân bà tự tan vỡ” (9).
Năm kế tiếp (43 s. c. ng.), “tháng
giêng, mùa xuân, Trưng Trắc cùng em gái là Nhị cự chiến với quân Hán.
Hai bà bị thua và mất. Trưng vương cùng em gái là Nhị cự chiến với quân
Hán, quân vỡ, thế cô, đều bị thất trận chết. Mă Viện đuổi đánh
tàn quân của hai bà là bọn Đô Dương (chữ … trong Hán thư chép là chữ
dê (**)), đến huyện Cư Phong th́ hàng phục được họ. Mă Viện lập cột
đồng để ghi địa giới tận cùng của nhà Hán. Khi Mă Viện về rồi, người
trong nước thương nhớ Trưng vương, lập đền thờ bà” (9).
Và Cương mục viết lời chua về “cột đồng”:
“… Sách Nhất thống chí nhà Đại Thanh có chép: ‘Tương truyền (cột
đồng) ở về động Cổ Sâm châu Khâm, Mă Viện có thề rằng: ‘Đồng trụ chiết,
Giao Chỉ diệt’, nghĩa là ‘cột đồng ấy găy th́ Giao Chỉ bị diệt’, nên
người Việt đi qua dưới chân cột đồng ấy cứ lấy đá bồi đắp lên măi thành
g̣ đống cao. Đó là v́ sợ cột đồng bị đổ găy” (9).
Toàn thư
và Cương mục là tư liệu gốc của
nước ta, rất tiếc là cũng chỉ viết sơ lược như thế. Tuy
nhiên, có những ḍng chữ đă làm chói sáng công cuộc khởi nghĩa rộng khắp,
đạt được thắng lợi hiển hách của nhân dân Bách Việt, và làm sáng chói
triều đại Trưng nữ vương, tuy rằng triều đại độc lập, tự chủ ấy của dân
tộc ta chỉ đứng vững vỏn vẹn trong 3 năm trời (40 s. c. ng. – 43 s. c.
ng.).
2
Phải chăng nguyên nhân khởi nghĩa
như nhiều người đă nghĩ?
Hai Bà Trưng là hậu duệ của vua Hùng
(10). Trong dă sử nước ta, về thời Hùng vương, có truyện cổ Trầu cau
rất nên thơ, phản ánh tŕnh độ văn minh nhất định của người Việt
Nam cổ đại (11).
Truyện Thánh Gióng phản ánh tinh thần yêu nước của nhân dân một cách sâu
sắc, lại c̣n thể hiện một tŕnh độ xă hội đă biết sản xuất (rèn đúc) ra
vũ khí (tất nhiên cả nông cụ) bằng sắt. Về tŕnh độ trị thuỷ (chống lũ
lụt, làm đê điều), truyện Sơn Tinh – Thuỷ Tinh đă phản ánh rất rơ nét.
Đó là chưa nói đến Trống Đồng Lạc Việt, những mũi tên đồng Cổ
Loa, hai bằng chứng vật thể sinh động và hùng hồn về kĩ nghệ luyện
kim, đúc đồng của người Lạc Việt, Âu Việt, ngay cả người Trung Hoa (vốn
có nền văn minh hơn cả châu Âu thuở bấy giờ) cũng rất khâm phục. Chính
tên tướng giặc Mă Viện cũng đặc biệt khâm phục, nhưng lại có dă tâm tiêu
diệt văn hoá Việt (Mă Viện từng cướp trống đồng ở đền Đồng Cổ để nấu lại,
đúc thành ngựa đồng đem về dâng cho vua Hán) (12). Chúng ta cũng biết
rằng, không nhất thiết các h́nh ảnh được nh́n thấy trên trống đồng Lạc
Việt là h́nh ảnh của xă hội Lạc Việt vào năm 500 tr. c. ng (tính theo
niên đại [C14] trống đồng cách thế kỉ XX khoảng 2.500 năm), mà đó chính
là h́nh ảnh hồi ức về thời khởi thuỷ của người Lạc Việt trên đất Giao
Chỉ, nghĩa là cách thế kỉ XX khoảng 4.000 năm.
Có lẽ cần phân tích thêm một vài chi
tiết nữa về văn hoá thời cổ đại này. Theo các thư tịch cổ của Trung Hoa,
đă được trích dẫn bên trên, rằng, người Cửu Chân không biết cày bừa bằng
trâu ḅ: “… Hậu Hán thư (quyển 106): “Người Cửu Chân, tục lấy săn bắn
làm nghề nghiệp, không biết cày bằng trâu ḅ (Đông quan Hán kí
nói: Cửu Chân tục đốt cỏ mà trồng trọt ở ruộng. Tiền Hán thư nói:
Sưu túc đô uư là Triệu Quá dạy dân cày bằng ḅ)…” (xem lại cước chú
(5)). Nhưng sự thật là trong ngôn ngữ Hán, từ “ngưu” được dùng để chỉ
cho cả trâu lẫn ḅ, chứng tỏ người Hán – Hoa không phân
biệt được hai loại súc vật này, v́ h́nh như ở đất Trung Hoa không hề có
loài trâu; trâu là loài súc vật đặc chủng ở vùng Nam Á. Ở Nam Á, chủ yếu
là cày bằng trâu chứ ít người cày bằng ḅ. Khi muốn nói về loài trâu,
người Hán – Hoa phải thêm một định ngữ : thuỷ ngưu (ḅ nước), c̣n
khi họ chỉ dùng mỗi một từ “ngưu”, th́ phải hiểu đó là ḅ! (13). Cho nên,
không thể tin được vào Hậu Hán thư cùng các sách cổ khác của Trung Hoa
về chi tiết này.
Về cách búi tóc (“búi tóc ở gáy”),
trang phục (“lấy vải luồn qua đầu làm áo”), có lẽ là đúng sự thật.
Trước thế kỉ XX, nam lẫn nữ người Việt búi tóc ở gáy là phổ biến; cho
đến ngày nay (XIX), một số vẫn c̣n búi tóc ở gáy, xem như một đặc sắc
văn hoá thuần Việt đáng tự hào. Trang phục “lấy vải luồn qua đầu làm
áo”, quả thật chỉ c̣n thấy ở loại áo binh trong vàng mă dùng để cúng
tế. Tuy nhiên, loại trang phục chỉ khoét một lỗ tṛn ở tấm vải làm cổ áo
để chui đầu qua này, tất nhiên là gọn ghẽ, chứ không phải để bùng xoà,
cột thắt lưng, như vẫn thấy ở một vài dân tộc Trung Á (xem các tranh thờ
của người Do Thái cổ đại) hoặc ở loại áo mưa cánh dơi (poncho). Về chi
tiết thích đi chân không, mặc dù guốc dép vẫn có, là một sự thật hiện
nay vẫn c̣n ở nông thôn Việt Nam; do đó, bàn chân hơi thô, các ngón chân
hơi toẽ ra (chứ không phải “giao chỉ” với nghĩa xấu!). Ai cũng có thể
hiểu rằng, đó không phải do gien, mà do tập quán ở xứ bùn lầy
nhiệt đới. Nếu mang giày dép từ bé th́ không có sự toẽ các ngón chân như
thế (14). Điều này rất trái ngược với hủ tục bó chân từ tấm bé để chân
yếu đi, nhỏ lại; càng yếu, càng nhỏ th́ càng đẹp [sic!], thị hiếu sản
sinh từ thói áp bức phụ nữ của người Hán – Hoa.
Sự phát triển và tŕnh độ văn hoá ở hai
bộ Giao Chỉ và Cửu Chân nước ta trong thời đoạn bị lệ thuộc nhà Triệu –
Hán (Vũ vương Đà – Ai vương Hưng) và nhà Tây Hán (Trung Hoa), tức là sau
thời điểm vua Hùng thứ 18 bại vong, An Dương vương làm mất nước, đến lúc
này (năm +40), hẳn là bị áp bức, bóc lột, bị ḱm hăm về mọi mặt, nhưng
không thể lạc hậu đến mức thụt lùi, trở về thời đồ đá!
Sở dĩ phải viết về văn hoá thời Hùng
vương, An Dương vương và thời bị nhà Triệu – Hán, nhà Tây Hán (Tiền Hán)
xâm chiếm, thống trị, bởi trước khi nổ ra cuộc khởi nghĩa Trưng Trắc –
Trưng Nhị, Toàn thư và Cương mục đều chép lại về hai thái
thú Tích Quang, Nhâm Diên, kế tiếp ngay sau đó mới là tên thái thú Tô
Định!
Và sở dĩ phải viết về văn hoá như thế là
bởi, tôi muốn bác bỏ những cách hiểu sai trái về mấy chữ “lấy pháp
luật mà ràng buộc” trong Hậu Hán thư, ở mục Mă Viện truyện đă trích
dẫn bên trên. Có nhà nghiên cứu (như Đào Duy Anh chẳng hạn) cho rằng,
Trưng Trắc chống lại luật hôn nhân và các luật văn hoá khác của nhà Đông
Hán (25 – 219) (15)! Đúng là không thể không chống lại mưu toan và chính
sách đồng hoá văn hoá, đồng hoá huyết thống để tiệt ṇi Việt, nhưng cụ
thể mà lại như thế, mặc dù nhà nghiên cứu vô t́nh, cũng đă làm hạ thấp ư
nghĩa của cuộc khởi nghĩa. Đó là một sai lầm nghiêm trọng của Đào Duy
Anh.
3
Chân lí vốn rất giản dị mà vĩ đại!
Tại sao có cuộc khởi nghĩa ấy?
Nguyên nhân rất đơn giản đă trở thành
chân lí muôn đời: có ngoại xâm, tất nhiên phải chống ngoại xâm. Hà tất
phải hỏi! Cho dù sung sướng, cho dù văn minh hay cho dù đất nước trở
thành thiên đàng đi nữa (giả định phi lí dưới ách nô lệ!), loài người
nói chung vẫn có ư thức dân tộc và vẫn yêu quư độc lập, tự do hơn tất cả.
Không dân tộc nào lại chấp nhận làm nô lệ cho người ngoại quốc; nô lệ
cho chính quyền nước ngoài lại càng không thể chấp nhận. Trong thực tế
lịch sử, có bọn đế quốc, thực dân, bành trướng nào lại đi xâm lược nước
khác nhằm mục đích khai hoá thật sự, mà ngược lại, chúng chỉ nhằm mục
đích là áp bức, bóc lột, nô dịch nhân dân nước bị xâm lược mà thôi.
Chiêu bài khai hoá, thực ra, chỉ là đ̣n phép mị dân và sỉ nhục dân tộc
bị trị!
V́ vậy, có rất nhiều nhà nghiên cứu sử
học cứ chăm chắm vào việc phân tích nguyên nhân cuộc khởi nghĩa Trưng
Trắc – Trưng Nhị ở những nguyên cớ trực tiếp, chứ không phải là nguyên
nhân sâu xa. Hai khái niệm nguyên cớ và nguyên nhân vốn
khác nhau.
Thiên Nam ngữ lục
(sử ca dân gian thế kỉ XVII) có đoạn
thơ gần như tổng kết các nguyên nhân và
nguyên cớ:
“Một xin rửa sạch nước nhà
Hai xin đem lại nghiệp xưa họ Hùng
Ba kẻo oan ức ḷng chồng
Bốn xin vẻn vẹn sở công lênh này”.
Rơ ràng nỗi ô nhục của Tổ quốc bị giặc
ngoại xâm dày xéo, nô dịch là nguyên nhân sâu xa nhất, cháy bỏng thường
trực nhất, được nêu lên ở vị trí số một. Thứ đến, là v́ sự nghiệp dựng
nước và giữ nước của tổ tiên Hùng vương (Lạc vương). Thù chồng phải trả;
kẻ thù chính là quân ngoại xâm nên chỉ có thể trả bằng kháng chiến, chứ
không thể bằng luật pháp. Nguyên nhân thứ tư và cuối cùng, lại chính là
sự tự bảo vệ cơ ngơi, sự nghiệp, trong đó có cả nhân phẩm bản thân.
Hai nguyên nhân đầu là v́ đại nghĩa. Hai
nguyên cớ sau là v́ gia đ́nh riêng.
Tuy nhiên, mặc dù rơ ràng là vậy, nhưng
sách Hậu Hán thư, ở mục Mă Viện truyện (15), viết: “Thái thú Giao Chỉ
là Tô Định lấy pháp luật mà ràng buộc, Trắc oán giận mà làm phản”.
Pháp luật của đế chế Đông Hán (Hậu Hán) ràng buộc điều ǵ?
Thiên Nam ngữ lục,
phần ngoại kỉ (7), viết: “Tô Định ngờ Thi Sách làm phản, lại ghét Thi
Sách lấy cả hai chị em họ Trưng, bèn sai binh đến thành Chu Diên, toan
bắt Thi Sách và Trưng Trắc”.
V́ luật hôn nhân ư? Cụ thể là luật pháp
nhà Đông Hán cấm người đàn ông cưới hai vợ vốn là hai chị em ruột? Hoàn
toàn không thể hiểu như thế. Truyện Trầu cau chỉ ngụ ư cấm phụ nữ
không được lấy hai anh em ruột làm chồng. Trong Truyện Kiều, Kim
Trọng chả lấy hai chị em Thuư Kiều – Thuư Vân là ǵ. Tất nhiên luật pháp
mỗi thời mỗi khác, nhưng cho đến nay, nhân dân Việt Nam vẫn chấp nhận
Kim – Vân – Kiều. Ở khía cạnh khác, trong thực tế, theo Đào Duy Anh, chỉ
mỗi sách này viết Thi Sách lấy cả hai chị em ruột. Ngoài ra, các sách
khác không viết như thế. Và cho dù có theo Thiên Nam ngữ lục,
phần ngoại kỉ (7), th́ phải hiểu là, Tô Định không muốn có cuộc hôn nhân
thực chất là liên minh chính trị giữa Lạc tướng huyện Mê Linh (họ Lạc [Hùng])
và Lạc tướng huyện Chu Diên (Toàn thư khẳng định Lạc tướng này
không phải họ Lạc) (16).
Và thật ra, Đào Duy Anh cho rằng, luật
pháp ở đây chính là luật mới của nhà Đông Hán (dời kinh đô, đóng ở Lạc
Dương, phía đông), triều đại kế tục nhà Tây Hán (vốn đóng đô ở Trường
An, phía tây), sau khi Vương Măng (15 năm cướp ngôi) bị giết chết. Luật
pháp nhà Đông Hán ràng buộc chặt chẽ các dân tộc bị trị, trong đó có các
quư tộc cũ mà nhà Tây Hán c̣n dung dưỡng. Nói rơ hơn, đến lúc này, bọn
Đông Hán quyết siết chặt các thuộc địa của chúng, bằng biện pháp trấn áp,
bóc lột, tước đoạt ruộng đất của nhân dân Bách Việt cho quan binh và lưu
dân người Hán, và đồng thời đẩy mạnh tiến tŕnh Hán hoá, đồng hoá dân
tộc bị trị thành người Hán, tiệt ṇi Bách Việt, nhất là Âu Lạc Việt.
Riêng khía cạnh chính trị này, Đào Duy Anh có lí (15).
Như đă trích dẫn bên trên, Cương mục
(9), viết: “Lúc bấy giờ thái thú Tô Định cai trị tham lam và tàn
bạo, giết mất chồng bà. Bà bèn cùng với em gái là Trưng Nhị dấy quân,
đánh hăm chỗ châu lị. Tô Định phải chạy về
Nam Hải. […] Bà tự lập làm vua, đóng đô
ở Mi Linh”.
Không nghi ngờ ǵ nữa, một cuộc khởi
nghĩa tạo được sự hưởng ứng rộng khắp gần cả cơi Bách Việt như thế,
không phải là ngẫu nhiên. Phải có tổ chức, có liên lạc từ trước, và căn
bản là có đại nghĩa, lănh tụ phải có uy tín. Câu sử Cương mục (9)
thật hào tráng, phản ánh một sự thật lịch sử hào hùng:
“Quân bà đi đến đâu, như gió lướt đến
đấy. Các dân tộc Man, Lư ở Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố đều hưởng
ứng theo”.
Làm thế nào chỉ là bỗng chốc, ngẫu nhiên,
chỉ v́ thù nhà riêng tư, mà có thể tập hợp được lực lượng nhân dân,
chiến đấu và chiến thắng một cách thần tốc, vĩ đại đến thế! Tất nhiên ư
thức dân tộc độc lập, tự do, ư chí chống quân xâm lược tàn ác, chống lại
mưu toan đồng hoá dân tộc về huyết thống và văn hoá do bọn bành trướng
Đại Hán thực thi, đă từ lâu ngấm ngầm sôi sục trong tâm trí toàn dân
Bách Việt, là cơ sở của mọi cơ sở. Nhưng không thể không thấy được cuộc
khởi nghĩa thần tốc và vĩ đại ấy đă được Trưng Trắc, Trưng Nhị và Thi
Sách (hoặc Thi) liên lạc, tổ chức sâu rộng từ khá lâu trước đó (17).
Trưng Trắc – Trưng Nhị đă lănh đạo nhân
dân quét sạch kẻ thù; bọn thái thú như Tô Định và quan tướng nhà Đông
Hán thảm bại, hoảng hốt kéo nhau bỏ chạy về nước. Hai Bà Trưng đă chiếm
lại gần trọn vẹn đất Bách Việt với 65 thành tŕ. Trưng Trắc đă lên ngôi
vua, phục hồi lại quốc thống từ thời vua Hùng.
Mặc dù sau ba năm Hai Bà Trưng xây dựng
một triều đại độc lập tự chủ, quân đội của Hai Bà Trưng vẫn chưa đủ mạnh
để có thể bảo vệ Đất nước trước sự phản công, tái chiếm của quân binh
nhà Đông Hán, một khi chúng dốc toàn lực. Mă Viện lại là tên tướng giặc
thuộc loại sừng sỏ, nhiều kinh nghiệm trận mạc nhất của chúng.
4
Những lời b́nh của sử gia:
Sau khi Mă Viện đă về nước, có đến
khoảng 200 ngôi đền nhân dân đă lập nên để thờ kính Hai Bà Trưng cùng
những danh tướng, danh binh trong cuộc khởi nghĩa. Toàn thư ghi nhận,
ngay tại thành Phiên Ngung (đất cũ hiện nay ở trên lănh thổ Trung Hoa)
cũng có đền thờ Hai Bà Trưng (18).
Sử gia Lê Văn Hưu đă ca ngợi tài năng
lỗi lạc của Hai Bà Trưng và phê phán những kẻ nam nhi hèn nhát:
“Trưng Trắc, Trưng Nhị là đàn bà, hô một tiếng mà các quận Cửu Chân,
Nhật Nam, Hợp Phố, cùng 65 thành ở Lĩnh ngoại đều hưởng ứng, việc dựng
nước xưng vương dễ như trở bàn tay, có thể thấy h́nh thế đất Việt ta đủ
dựng được nghiệp bá vương. Tiếc rằng nối sau họ Triệu (sic – TXA.
ct.) cho đến trước họ Ngô, trong khoảng hơn ngh́n năm, bọn đàn ông
chỉ cúi đầu bó tay, làm tôi tớ cho người Phương Bắc, há chẳng xấu hổ với
hai chị em họ Trưng là đàn bà hay sao? Ôi! Có thể gọi là tự vứt bỏ ḿnh
vậy” (19).
Sử gia Ngô Sĩ Liên ca ngợi Hai Bà Trưng
như thần nhân: “Họ Trưng giận thái thú nhà Hán bạo ngược, vung tay hô
một tiếng mà quốc thống nước ta cơ hồ khôi phục, khí khái anh hùng há
chỉ lúc sống dựng nước xưng vương, mà sau khi chết c̣n có thể chống ngăn
tai hoạ: Phàm gặp những việc tai ương hạn lụt, đến cầu đảo không việc ǵ
là không linh ứng. Cả bà Trưng em cũng thế. V́ là đàn bà mà có đức hạnh
kẻ sĩ, cái khí hùng dũng trong khoảng trời đất không v́ thân chết mà kém
đi. Bọn đại trượng phu há chẳng nên nuôi lấy cái khí phách cương trực
chính đại ấy ư?” (20).
Hoá ra, nhà nho kiêm sử gia duy lí Ngô
Sĩ Liên cũng chỉ duy lí ở mức độ của thời đại ḿnh, vẫn đặt đức tin vào
thuyết thần khí linh ứng; nhưng điểm rất đặc sắc ở Ngô Sĩ Liên là ông
tiếp thụ tinh tuư ấy từ văn hoá dân tộc, nhân (con người) hoá
thành thần (thần thánh) chính là người anh hùng cứu nước, chứ
không phải tà ma nhảm nhí.
Ở Cương mục, lời châu phê của vua
Tự Đức: “Hai Bà Trưng thuộc phái quần thoa, thế mà hăng hái quyết tâm
khởi nghĩa, làm chấn động cả triều đ́nh Hán. Dẫu rằng thế lực cô đơn,
không gặp thời thế, nhưng cũng đủ làm phấn khởi ḷng người, lưu danh sử
sách. Ḱa những bọn nam tử râu mày mà chịu khép nép làm tôi tớ người
khác, chẳng cũng mặt dày thẹn chết lắm dư!” (21).
Cho dù viết sử dưới thời thực dân Pháp
thống trị, có những hạn chế này khác, đề tài lại là hoàn cảnh “thời Bắc
thuộc”, một hoàn cảnh cũng bi thảm, đen tối tương tự như “thời Pháp
thuộc”, Trần Trọng Kim cũng hết lời ngợi ca Hai Bà Trưng, hai người phụ
nữ Việt Nam đă oai hùng, dũng cảm tổ chức, lănh đạo nhân dân vùng dậy
đánh đổ ách thực dân cổ đại Trung Hoa. Sử gia Trần Trọng Kim viết:
“Hai Bà họ Trưng làm vua được 3 năm, nhưng lấy cái tài trí của người đàn
bà mà dấy được nghĩa lớn như thế, khiến cho vua tôi nhà Hán phải lo sợ,
ấy cũng là đủ để cái tiếng thơm về muôn đời. Đến ngày nay có nhiều nơi
lập đền thờ Hai Bà để ghi tạc cái danh tiếng hai người nữ anh hùng nước
Việt Nam ta” (21).
Dẫu sao, như trên đă tŕnh bày, Trưng
Trắc – Trưng Nhị là hai người phụ nữ vĩ đại bậc nhất trong lịch sử nhân
loại, giới phụ nữ toàn cầu xưa nay hầu như chưa từng có (22). Xin nói
một cách khiêm tốn, theo kiến thức hạn hẹp của tôi, tôi chưa từng đọc
được trang sử nào của các nước trên thế giới, từ cổ đại đến hiện đại,
lại có nhân vật lịch sử nước họ là người phụ nữ giương cao cờ nghĩa, tổ
chức, lănh đạo nhân dân rộng khắp để khởi binh kháng chiến, cứu nước một
cách thần tốc và vĩ đại như thế. Trưng Trắc – Trưng Nhị c̣n là hai nhân
cách tuyệt vời trong sáng, cao đẹp, không gợn một chút t́ vết nào.
Những nhân vật lịch sử vừa hiển hách về
chiến công, vừa vĩ đại về sự nghiệp, vừa cao đẹp về nhân cách, vừa được
nhân dân kính yêu, tín ngưỡng như Trưng Trắc – Trưng Nhị đă làm sáng
ngời những trang sử sách, khiến sáng mắt sáng ḷng hậu thế, ấm lại
niềm tin về con người, nhất là về những con người chính trị, quân sự
trong “ma lực” của quyền bính.
Tp. HCM., viết xong
vào lúc 10 giờ 31 phút,
ngày 05. 07. HB4
(20. 05 G. thân HB4).
TRẦN XUÂN AN
Cước chú của bài Trưng Trắc, nữ vương vĩ đại…:
(1) Đại Việt sử kí toàn thư (gọi tắt là Toàn thư), bản in nội
các quan bản (1697), bản dịch (3 tập), tập 1, Nxb. Văn hoá – Thông tin,
2003.
(2) Khâm định Việt sử thông giám cương mục (1884) (gọi tắt là
Cương mục), tiền biên và chính biên, bản dịch (2 tập), tập 1, Nxb. Giáo
Dục, 1998.
(3) Quận Giao Chỉ: Bắc bộ Việt
Nam. Theo Cương mục,
quận Giao Chỉ thống trị mười huyện: La Lũ (Liên Thụ), An Định, Cẩu Lậu,
Mi Linh (Mê Linh), Khúc Dương, Bắc Đái, Kê Từ, Tây Vu, Long Biên, Chu
Diên. Xem: Cương mục, sđd., tập 1, tr. 109 (Tb. [tiền biên], q. [quyển]
II, 5). Trị sở của thái thú quận Giao Chỉ đến thời Đông Hán (c̣n gọi là
thời Hậu Hán [25 s. c. ng. – 219 s. c. ng.], sau cuộc cướp ngôi của
Vương Măng [8 s. c. ng. – 23 s. c. ng.]) mới đóng ở Long Uyên (tức Long
Biên, nay là thủ đô Hà Nội). Sở dĩ vùng đất này được đổi tên là Long
Uyên là bởi, vào năm 208 (Hán, Kiến An thứ 13), “khi mới đắp thành, có
giống giao long lượn đi lượn lại ở hai bên bờ sông” (theo Thuỷ kinh chú).
Xem: Cương mục, sđd., tr. 111 (Tb., II, 7): lời chua.
(*) Không phải Đỗ Mục (803 – 853), thi sĩ đời văn Đường (Trung
Hoa).
(4) Quận Cửu Chân: Bắc Trung bộ Việt
Nam (từ Thanh Hoá trở
vào…). Theo Cương mục, quận Cửu Chân thống trị bảy huyện: Tư Phố, Cư
Phong, Đô Bàng, Dư Phát, Hàm Hoan, Vô Thiết, Vô Biên; nguyên đầu đời Hán,
tách ra đặt làm quận Nhật Nam (tức là Quảng B́nh, Quảng Trị ngày nay).
Xem: Cương mục, sđd., tập 1, tr. 109 & 110 (Tb. [tiền biên], q [quyển]
II, 5 – 6).
(5) Toàn thư và Cương mục vẫn thừa nhận Tích Quang, Nhâm Diên
là hai thái thú có công khai hoá dân Việt!?! Toàn thư viết: “Phong tục
văn minh của đất Lĩnh
Nam
bắt đầu từ hai thái thú ấy”. Thật sự không một nước nào lại đi khai hoá
nước khác bằng cách kéo quân đi xâm lược, dùng mưu kế thâm độc để xâm
chiếm. Xem: Toàn thư, sđd., tập 1, tr. 212 – 213 (NK. [ngoại kỉ], q. II,
tờ 1a – 1b); Cương mục, sđd., tập 1, tr. 112 – 113 (Tb. [tiền biên], q [quyển]
II, 8 – 9). Có lẽ cũng cần đọc thêm những đoạn trong thư tịch cổ của
Trung Hoa, mặc dù đó là những câu chữ thực chất là bôi nhọ, xuyên tạc (như
Đào Duy Anh đă nhận định), nhằm biện minh cho chiêu bài khai hoá. Hậu
Hán thư (quyển 54) viết: “Phàm đất Giao Chỉ bộ, tuy đă đặt quận huyện,
nhưng ngôn ngữ khác nhau, phải có thông ngôn mới hiểu. Người như cầm thú,
không phân biệt trưởng ấu, búi tóc ở gáy, đi chân không, lấy vải luồn
qua đầu làm áo. Sau đó người tội nhân Trung Quốc đến ở lẫn với họ, mới
hơi biết ngôn ngữ, dần dần thấy hoá theo lễ. Đến đời Quang Vũ trung hưng,
Tích Quang làm thái thú Giao Chỉ, Nhâm Diên làm thái thú Cửu Chân, bấy
giờ dạy cho dân cày cấy, biết đội mũ đi giày, đặt mối lái, dân mới biết
hôn nhân, dựng học hiệu dạy lễ nghĩa”. Và cũng Hậu Hán thư (quyển 106):
“Người Cửu Chân, tục lấy săn bắn làm nghề nghiệp, không biết cày bằng
trâu ḅ (Đông quan Hán kí nói: Cửu Chân tục đốt cỏ mà trồng trọt ở ruộng.
Tiền Hán thư nói: Sưu túc đô uư là Triệu Quá dạy dân cày bằng ḅ). Dân
thường phải nhờ Giao Chỉ giúp lúa cho, thường hay túng thiếu. [Nhâm –
ct.] Diên bèn khiến đúc chế điền khí, dạy cho khai khẩn ruộng nương, năm
năm mở rộng, trăm họ no đủ. Lại dân Lạc Việt không có lễ giá thú, chỉ
theo dâm hiếu, chứ không thích cặp đôi; không biết tính cha con; không
biết đạo vợ chồng… Thời B́nh đế, Tích Quang người đất Hán Trung, làm
thái thú Giao Chỉ, dạy dân Di dần dần theo lễ nghĩa, tiếng tăm cũng
ngang hàng với Nhâm Diên. Cuối đời Vương Măng, [Quang – ct.] giữ đất cự
tuyệt [với Vương Măng soán ngôi nhà Hán – ct.]. Đến buổi đầu Kiến Vũ, [Quang
– ct.] sai sứ cống hiến, bèn được phong tước Diêm Thuỷ hầu. Miền Lĩnh
Nam [tức Bách Việt – ct.] theo phong hoá Trung Quốc là bắt đầu từ hai
thái thú ấy”. Đào Duy Anh cước chú: “Đại khái người Hán tộc cho rằng
người Lạc Việt ở Giao Chỉ và Cửu Chân không có chế độ gia tộc và chế độ
hôn nhân như họ”. Dẫn theo: Đào Duy Anh, Lịch sử Việt Nam, Nxb. Văn hoá
– Thông tin tái bản, 2002, tr. 93 – 94. TXA. chua thêm (ct.).
(6) Cương mục, sđd., tập 1, tr. 114 (Tb., II, 10).
(7) Dẫn theo: Đào Duy Anh, Lịch sử Việt
Nam, Nxb. Văn hoá –
Thông tin tái bản, 2002, tr. 98. ĐDA. cước chú: Thiên Nam ngữ lục (sách
của Thư viện Bác cổ, kí hiệu: AB 478). TXA. in đậm (iđ.) & chua thêm
(ct.). Xem: Nhiều tác giả, Từ điển văn học, tập 2, Nxb. KHXH., 1884, tr.
371: “Thiên Nam ngữ lục là một tập thơ viết về lịch sử (loại quốc sử
diễn ca), xuất hiện vào cuối thế kỉ XVII, gồm 8.136 câu, viết từ đời
Hồng Bàng đến Hậu Trần, có thêm phần phụ “Lê triều kỉ”; chủ yếu dựa vào
Toàn thư, nhưng có sử dụng thêm tư liệu dân gian”.
(8) Toàn thư, sđd., tập 1, tr. 214 (NK. [ngoại kỉ], q. II, tờ
2a). TXA. iđ. & ct..
(9) Cương mục, sđd., tập 1, tr. 114 – 117 (Tb., II, 9 – 13).
TXA. iđ. & ct..
(**) Nguyên chú của Cương mục (sđd., số tr. đă dẫn): “… bọn
Đô Dương (chữ … trong Hán thư chép là chữ dê) …”. Chắc chắn chữ Dương (Mặt
trời? Biển?…) với nghĩa đẹp ấy là tên riêng. Hoặc giả, có thể tên của vị
lăo tướng là chữ Nôm (Đô Giương?). Rất tiếc bản dịch không in chua thêm
chữ Hán, chữ Nôm nào, chỉ để trống với dấu ba chấm. Dẫu sao, vẫn chắc
hẳn sử gia người Trung Hoa, biên soạn Hán thư, thực chất cũng có ư xấu,
muốn bôi nhọ lăo tướng Đô Dương (chỉ huy một đạo quân của Hai Bà Trưng)
là loại dê chó (“dương chất hổ b́” [da cọp chất dê], gà chó, ưng khuyển…),
khi cố t́nh viết sai tên của lăo tướng.
(***) Từ đây, về năm dương lịch, nếu trước công nguyên Tây
lịch (tr. c. ng.), sẽ ghi dấu trừ (-) trước số chỉ thứ tự năm; nếu sau
công nguyên Tây lịch (s. c. ng.), sẽ ghi dấu cộng (+) hoặc không dấu
trước số chỉ thứ tự năm; và để biểu thị một giai đoạn, vẫn theo cách
thông thường là hai số chỉ năm cách nhau bằng một dấu ngang nối dài (–).
(10) Tưởng cũng nên nhắc lại về thời Hùng vương, tổ tiên của
Hai Bà Trưng. Cũng như bất ḱ dân tộc, quốc gia nào, giai đoạn huyền sử
của nước ta và Trung Hoa cũng mờ mịt, thực hư lẫn lộn. Nếu dân tộc ta có
Thần Trụ Trời trong thần thoại, Trung Quốc có ông Bàn Cổ! Theo sử Trung
Quốc, thời khởi thuỷ, ở Trung Hoa có ông Bàn Cổ, thọ đến chín trăm (900)
tuổi (sic!), khiến người ta liên tưởng đến những nhân vật có tuổi thọ
cũng khoảng chín trăm (900) tuổi như thế trong Sáng thế kí, phần Cựu ước
của Kinh Thánh Thiên Chúa giáo (a)! Sau đó, ở Trung Quốc là thời Tam
hoàng, Ngũ đế. Có thuyết cho là Tam hoàng gồm Toại Nhân, Phục Hy, Thần
Nông và Ngũ đế gồm Hoàng Đế, Xuyên Húc, Đế Cốc, Nghiêu, Thuấn. Thần Nông
c̣n có hiệu là Viêm Đế. Chỉ đến các đời vua này, các dân tộc Hán – Hoa
mới bước đầu thoát khỏi giai đoạn hậu vượn-người. “Từ trước đến giờ,
người Tàu c̣n ăn lông ở lỗ. Đến họ Hữu Sào (trước Tam hoàng?), mới bày
cho dân kết cành cây trên đại thọ làm nơi ẩn trú; họ Toại Nhân bày lấy
lửa nấu chín đồ ăn. Về sau, có mấy vị thủ lĩnh rất có công mở mang cho
dân là: Phục Hy dạy dân phép cưới vợ, gả chồng, nuôi thú vật để sai
khiến, làm lưới để đánh cá, vẽ bát quái chỉ cái lẽ âm dương sinh hoá của
muôn vật, chế nhạc khí; Thần Nông, hiệu Viêm Đế, chế ra cày bừa, dạy cày
ruộng, lập chợ búa để dân trao đổi hoá vật, lại nếm các thứ cây cỏ để
t́m vị thuốc cho dân trị bêïnh, ấy là ông tổ của các nghề nông, thương,
và thuốc. Nghề nông phát sinh, và từ đó người Tàu mới định cư hẳn. Văn
hoá bắt đầu sáng tạo vậy” (Phan Khoang, Trung Quốc sử lược, ấn quán Hồng
Phát, Chợ Lớn – Sài G̣n, 1958, tr. 7 – 8). Tôi nhấn mạnh đến nhân vật
huyền sử Thần Nông (Viêm Đế). Cũng như nhiều nhân vật huyền sử khác, đây
là trường hợp hậu thế lấy danh từ chung để gọi thành tên. Viêm Đế có
liên quan đến họ Hồng Bàng của dân tộc ta (b). Xin xem lại bài bài viết:
“Giai đoạn huyền sử trong Đại Việt sử kí toàn thư (1697) và Khâm định
Việt sử thông giám cương mục (1884)” của TXA..
(a) Xem thêm: Kinh Thánh, Hội Thánh Tin Lành Việt
Nam, 1986. Theo Kinh
Thánh, A-đam bắt đầu có khả năng sinh con vào năm một trăm ba mươi (130)
tuổi, hưởng thọ đến chín trăm ba mươi tuổi (930) tuổi; Sết thọ chín trăm
mười hai (912) tuổi; Ê-nót thọ hơn chín thế kỉ (905); Lê-méc, thân phụ
của Nô-ê thọ đến bảy trăm bảy mươi bảy (777) tuổi; bản thân Nô-ê đến năm
trăm (500) tuổi c̣n sinh con! (sđd., tr. 5 – 6 [[STK. [Sáng thế kí]: 5 :
1 – 32]]). Chúng ta cũng dễ liên tưởng đến nhân vật lịch sử Jésus Christ
(1 – 33), người đă bị các “thứ sử”, “thái thú” Hérodé (Hérode), Philato
(Philastre) của đế quốc La Mă tử h́nh trước cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng
đúng 7 năm.
(b) Như cách giải thích nguồn gốc loài người (thuyết khởi
nguyên) ở Sáng thế kí, trong Cựu ước, thuộc Kinh Thánh, sđd., hay ở thần
thoại Thần Trụ Trời của dân tộc Việt Nam, huyền thoại về Lộc Tục (Kinh
Dương vương) cũng lí giải về nguồn gốc khởi nguyên, có điều ở đây có
phạm vi hẹp hơn. Chuyện về Thần Nông (Viêm Đế, thực chất chỉ là người
đứng đầu bộ lạc thị tộc da vàng Phương Nam , xứ viêm nhiệt) và đặc biệt
là chuyện cháu ba đời là Đế Minh đi tuần Phương Nam, lấy Vụ Tiên Nữ,
sinh ra Đế Nghi (Hán tộc) và Lộc Tục (Kinh Dương vương, Việt tộc), chỉ
là một cách giải thích theo tư duy cổ đại sơ ḱ (thượng cổ) về nguồn gốc
đại nhân chủng da vàng châu Á. Sự thật xa xưa và sự thật nhăn tiền về
h́nh dáng tương tự nhau giữa các dân tộc Hán – Hoa, Nhật, Hàn Quốc,
Triều Tiên, Thái Lan, Philipinnes, Lào, Mianma, Indonésia, Campuchia… là
cơ sở của huyền thuyết ấy. Đó không phải là nội dung nhồi sọ thời Hoa
thuộc như sự nhồi sọ của thực dân Pháp ở các trường học thời Pháp xâm
chiếm: “Tổ tiên chúng ta là người Gô-loa (Nos ancêtres étaient les
Gaulois)”.
(11) Vũ Ngọc Phan (sưu tầm), Truyện cổ dân gian Việt
Nam, Nxb. Giáo Dục,
1975, tr. 52 – 55. Chuyện kể về phong tục ăn trầu nhuộm răng, về t́nh
nghĩa, đạo lí vợ chồng và anh em: “Ngày xưa, một viên quan lang họ Cao…
[… Cha mẹ mất…]. Không con được cha mẹ dạy dỗ nữa, hai anh em đến xin
học ông đạo sĩ họ Lưu. […] Ông Lưu có một cô con gái […]. Trông thấy hai
anh em họ Cao vừa đẹp vừa hiền, cô gái sinh ḷng yêu mến, muốn kén người
anh làm chồng […]”. Truyện c̣n phản ánh về tập tục cổ đại, ở cuối thời
ḱ mẫu hệ, đầu thời ḱ phụ hệ, hay đúng hơn, dấu vết mẫu hệ c̣n rơi rớt
lại trong xă hội phụ hệ, đó là phong tục cưới chồng (người nữ chủ động).
Sau nhiều chi tiết sinh động, truyện cổ tích kết lại: “Một hôm, vua Hùng
đi qua chốn ấy, dân đem chuyện ba người kể lại cho vua nghe và rước vua
đến xem. Vua bảo thử lấy lá cây leo và lấy quả ở cái cây không cành
nghiền ra với nhau xem sao, th́ thấy mùi vị cay cay; nhai thử thấy thơm
ngon và nhổ nước vào tảng đá th́ thấy băi nước biến dần ra sắc đỏ. Dân
trong vùng gọi cái cây không cành ấy là cây cau, cây dây leo kia là cây
trầu, lại lấy tảng đá ở bên đem về nung cho xốp để nhá một ít với trầu
cau, cho miệng thơm, môi đỏ. […] Trong mọi sự gặp gỡ của người Việt Nam,
miếng trầu thường là đầu câu chuyện, để bắt mối lương duyên, và những
khi có lễ nhỏ lễ lớn, cưới xin, hội hè, tục ăn trầu đă trở nên một tập
tục của người Việt Nam”.
Về tục ăn trầu này, về sau, Lí Tư Diễn (đời Nguyên, Trung Hoa)
có câu thơ: “Tân lang, nhạc hiệp, hựu xuân lục, Tống đáo thuỳ gia quật
tục hương” (Vôi trắng, trầu xanh, cau lại dẻo, Nhà ai hoa bưởi ngát
hương đưa). Xem: Lê Tắc, An Nam chí lược (thuộc Tứ khố toàn thư, Trung
Hoa), bản dịch của Uỷ ban Phiên dịch sử liệu Viện Đại học Huế (GS. Trần
Kinh Hoà cố vấn), Viện Đại học Huế xb., 1961; Nxb. Thuận Hoá, TT. Văn
hoá – Ngôn ngữ Đông Tây tái bản, 2002, tr. 21, 300.
(12) Hậu Hán thư, Mă Viện truyện, quyển 54, và những sách
thuộc thư tịch cổ khác cũng đề cập đến kĩ nghệ đúc đồng Lạc Việt, như
Thuỷ kinh chú, Lâm Ấp kí (về thuyền đồng), Lĩnh ngoại đại đáp. Sách
“Lĩnh ngoại đại đáp” viết: “Sử sách Trung Quốc thường khen xứ Lạc Việt
là sản xuất nhiều đồng và bạc”. Xem: Đào Duy Anh, Lịch sử Việt
Nam, Nxb. Văn hoá –
Thông tin tái bản, 2002, tr. 63. Đào Duy Anh lại cho kĩ thuật đồ sắt là
do người Hán truyền sang (sđd., tr. 113). Hẳn Đào Duy Anh căn cứ vào
việc Hán Cao hậu cấm bán đồ sắt cho Triệu Đà trong Sử cũ, mà Sử cũ lại
chịu ảnh hưởng của thư tịch Trung Hoa!
(13) Xem Đào Duy Anh, Từ điển Hán – Việt, tập hạ, Nxb. KHXH.,
2001, tr. 53. Xem: Thiều Chửu, Hán – Việt từ điển, Nxb. TP. HCM., tái
bản, 1999, tr. 379: Bộ ngưu; chữ “ngưu” vẫn được dịch là con trâu; có
hai chữ khác cùng thuộc bộ ngưu, chữ “mục”: con ḅ bụng đen (nghĩa thứ
7), chữ “cổ”: con ḅ đực. Không có chữ nào khác chỉ con ḅ. Thật ra,
đúng như Từ điển Hán – Việt của Đào Duy Anh, đa số người Việt ta dịch và
hiểu chữ “ngưu” là con trâu như Thiều Chửu, nhưng người Hán – Hoa vẫn
hiểu “ngưu” là con ḅ, “thuỷ ngưu” mới là con trâu. Và cứ liệu có giá
trị thuyết phục cao là các di chỉ khảo cổ: răng, xương trâu ḅ thời Hùng
vương trở về trước. Xem: Uỷ ban Khoa học xă hội Việt Nam, Lịch sử Việt
Nam, tập 1, Nxb. Khoa học xă hội, 1971, tr. 46; Nhiều tác giả (GS. Phan
Huy Lê, GS. Trần Quốc Vượng, GS. Hà Văn Tấn, GS. Lương Ninh), Lịch sử
Việt Nam,
tập 1, Nxb. Đại học và Trung học chuyên nghiệp, in lần thứ hai (có chỉnh
lí), 1985, tr. 80 – 81; Nhiều tác giả (GS. Trương Hữu Quưnh, GS. Đinh
Xuân Lâm, PGS. Lê Mậu Hăn chủ biên), Đại cương Lịch sử Việt
Nam,
toàn tập, Nxb. Giáo Dục, 2001, tr. 38.
(14) Một nhận xét ngoài lề: Tôi nhận thấy ở TP. HCM., đa số
người ở đây đều có lệ khi vào nhà người khác đều phải cởi giày dép, chỉ
đi chân không; người trong nhà, về đến nhà, cũng đi chân không. Có lẽ lí
do là cần giữ nền nhà sạch sẽ, khỏi mang bụi đất vào nhà, nhất là nền
nhà lát gạch bông; thậm chí có thể v́ lí do an ninh (khách lạ vào nhà
khó cướp chạy) [?]; và cũng c̣n v́ lí do khác, mà người xứ lạnh (hàn đới,
ôn đới) khó hiểu, là đi chân không cho mát chân. Liệu có yếu tố văn hoá
thâm sâu nào ở cái lệ (gần thành tập quán) đi chân không trong nhà tại
TP. HCM.?
(15) Đào Duy Anh, Lịch sử Việt
Nam, Nxb. Văn hoá –
Thông tin tái bản, 2002, tr. 99. Đào Duy Anh viết: “Trong hai công việc
của bọn thái thú như Tích Quang và Nhâm Diên, có hai điểm khiến giai cấp
quư tộc và nhân dân bất b́nh nhất: Thứ nhất là sự bắt buộc theo lễ giáo
mới, như lễ hôn nhân, xúc phạm trắng trợn đến phong tục cố hữu của người
ta, đồng thời lại bắt trưởng lại – tức các Lạc tướng – phải xuất tiền để
giúp cho những người nghèo khổ tổ chức hôn lễ; thứ hai là việc cướp đất
của các bộ lạc đi đôi với bóc lột trực tiếp nông dân những miền đất đai
bị bọn địa chủ mới chấp chiếm. Quư tộc và nhân dân bản quốc vốn đă bất
b́nh về sự đốc thúc cống nạp phiền hà và sự bắt phu bắt lính, đến nay
chính sách đồng hoá và sự cướp đất như thế lại càng tăng thêm mối bất
b́nh”. Ở phần chính trên, tôi chỉ mới phân tích nguyên nhân thứ nhất
theo ĐDA., mà ông đă tŕnh bày nguyên nhân ấy ở đoạn vừa trích dẫn tại
cước chú này. Tôi sẽ tiếp tục phân tích thêm nguyên nhân thứ hai.
(16) Toàn thư, sđd., tập 1, tr. 214 (NK. [ngoại kỉ], q. II,
tờ 2a). TXA. iđ. & ct.: “Tên huư là Trắc, họ Trưng. Nguyên là họ Lạc,
con gái của Lạc tướng huyện Mê Linh, phong Châu, vợ của Thi Sách ở huyện
Chu Diên. (Thi Sách cũng là con Lạc tướng, con hai nhà kết hôn với nhau.
Sách Cương mục tập lăm lấy Lạc làm họ là lầm)”. Cha ruột của Thi Sách
không phải thuộc ḍng dơi vua Hùng (họ Lạc), mặc dù vẫn làm Lạc tướng.
(17) Theo một số tư liệu dă sử, gồm cả di tích tín ngưỡng,
Hai Bà Trưng có được sự hưởng ứng, giúp sức của nhiều người yêu nước,
tài năng thuở bấy giờ. Đó là bà Man Thiện (tức Trần Thị Đoan), mẹ ruột
của Hai Bà. Ngoài ra, c̣n có nhiều nữ tướng khác, như Bà Lê Chân, Vũ
Thục Nương, Thiều Hoa, Diệu Tiên, Đào Kỳ và các tráng tướng, lăo tướng
như Đô Dương… Xem: Nhiều tác giả (GS. Trương Hữu Quưnh, GS. Đinh Xuân
Lâm, PGS. Lê Mậu Hăn chủ biên), Đại cương Lịch sử Việt
Nam,
toàn tập, Nxb. Giáo Dục, 2001, tr. 81 – 82.
(18) Toàn thư, sđd., tập 1, tr. 216 (NK., q. III, tờ 3b).
(19) Toàn thư, sđd., tập 1, tr. 215 (NK., q. III, tờ 3a). TXA,
chua thêm (ct.).
(20) Toàn thư, sđd., tập 1, tr. 217 (NK., q. III, tờ 3b –
4a).
(21) Cương mục, sđd., tập 1, tr. 116 (Tb., II, 12).
(21) Trần Trọng Kim, Việt
Nam sử lược, Nxb. Tân
Việt, 1964, tr. 48.
(22) Xem thêm: Nguyễn Vỹ, Những đàn bà lừng danh trên thế
giới, Nxb. (?) – Sài G̣n, 1970.