SUY NGHĨ
VỀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ
TRONG
LỊCH SỬ CỔ ĐẠI
NƯỚC TA
CUỘC KHỞI NGHĨA CỦA LƯ BÍ (NHÀ TIỀN LƯ),
CUỘC TRƯỜNG K̀ KHÁNG CHIẾN CỦA TRIỆU
QUANG PHỤC
(NHÀ TRIỆU – VIỆT),
VÀ VÀI NÉT VỀ LƯ PHẬT TỬ (NHÀ HẬU
TIỀN LƯ) (*)
1
Bối cảnh lịch sử
Sau cuộc khởi nghĩa của Triệu Thị Trinh
vào năm Mậu th́n (248), lịch sử nước ta về phương diện chống xâm lược,
chống sự thống trị của các thế lực phong kiến Trung Hoa lại rơi vào
khoảng trống trong sử sách. Giao Châu rơi vào giữa hai gọng ḱm: phía
bắc vẫn là các thế lựïc Trung Hoa; phía nam lại là Lâm Ấp (Chiêm Thành).
a. Ách đô hộ và gọng ḱm
Trung Hoa:
Ở Trung Hoa, thế tam phân của thời Tam
quốc (**) đă thay đổi. Trước đó, Tư Mă Ư đă khuynh loát nhà Ngụy; tiếp
đến, Tư Mă Chiêu tiêu diệt được nước Thục (263); đến đời Tư Mă Viêm,
Viêm đă ép vua Ngụy nhường ngôi, để lập nên nhà Tấn (264). Nhà Thục và
nhà Ngụy tiêu vong, chỉ c̣n nhà Ngô và nhà Tấn chia nhau thống trị nước
Trung Hoa. Tôn Hạo là con cháu của Tôn Quyền, vẫn kế tục ngai vàng nhà
Ngô ở vùng đất phía đông nam Trung Quốc. Giao Châu ta vẫn là xứ thuộc
địa của Ngô triều này.
Từ cuộc khởi nghĩa Bà Triệu, măi đến 15
năm sau (263), ở Giao Châu ta mới bắt đầu có một biến động thể hiện rơ
sự phản kháng của nhân dân. Đó là sự kiện Lữ Hưng, vốn là một quan lại
cấp thấp của quận Giao Chỉ, nhân t́nh thế đó, đă triệt hạ tên thái thú
gian ác Tôn Tư và cả tên Đặng Tuân (1). Cả hai quận Cửu Chân và Nhật Nam
đều hưởng ứng. Tuy nhiên, đây chỉ là sự hưởng ứng của nhân dân đối với
một viên quan lại không gian ác để tiêu diệt những tên quan lại gian ác
kia mà thôi. Nhà Ngụy (264 (2)) ở Trung Hoa vẫn phong Lữ Hưng làm An Nam
tướng quân, đô đốc việc quân ở Giao Châu!
Tiếp theo đó là những năm Giao Châu
thành vùng đất tranh giành lẫn nhau giữa nước Ngô và nước Tấn (cả hai
đều là Trung Hoa)! Cho đến năm Canh tí (280), Trung Hoa mới nhất thống
dưới ngai vàng duy nhất của nhà Tấn (265 – 317)!
Sau đó, nhà Tấn bị Ngũ Hồ (năm nước Hồ [sử
cũ thường gọi là rợ Hồ] ở tây bắc Trung Hoa) xâm lấn. Hậu duệ nhà Tấn
lại trung hưng, lập kinh đô ở Kiến Khương (Nam Kinh ngày nay). Do đó,
nhà Tấn sơ (265 – 317) được gọi là nhà Tây Tấn; nhà Tấn trung hưng (317
– 420) được gọi là nhà Đông Tấn. Nhưng nhà Đông Tấn không c̣n nhất thống
toàn cơi Trung Hoa nữa, mà chỉ c̣n giữ được vùng đất đông nam.
Giao Châu ta lại chịu ách đô hộ của Đông
Tấn (317 – 420)!
Năm 420, ở Trung Hoa, cục diện lịch sử
cũng đă đổi khác: thời ḱ Nam (420 – 589) – Bắc triều (386 – 531)!
Phía bắc Trung Hoa, các
triều vua tranh đoạt, nối tiếp nhau là:
Hậu Nguỵ (người Măn Châu; về sau,
chia ra Đông Ngụy, Tây Nguỵ), kế theo Đông Nguỵ là Bắc Tề, kế theo Tây
Ngụy là Bắc Chu, cuối cùng Bắc Chu diệt cả Bắc Tề (577). Bắc Chu tồn tại
đến năm 581.
Phía nam Trung Hoa,
các triều Tống (420 – 479), kế đến là
Tề (479 – 502), rồi tiếp đến là Lương
(502 – 556), Trần (557 – 589) thay nhau cầm nắm vương quyền (3)!
Giao Châu ta phải chịu lệ thuộc vào các
vương quyền Nam triều Trung Hoa đó!
Măi đến năm Mậu thân (468) [Tống, Minh
đế, năm Thái Thuỷ thứ 4], ở Giao Châu mới khởi dậy một sự kiện có thể
nói là gây phấn chấn cho nhân dân dưới ách đô hộ của các vương triều Hán
tộc. Cương mục chép: “Người trong châu là Lư Trường Nhân giết
những bộ thuộc của Lưu Mục đem từ Trung Quốc sang, rồi chiếm giữ đất
Giao Châu…” (4). Lư Trường Nhân tự xưng là thứ sử; chống cự cả thứ
sử người Tàu, tên Lưu Bột, do nhà Tống bổ nhiệm. Sau đó, tự biết thế lực,
Lư Trường Nhân nhún nhường xin hàng, “tự giáng chức ḿnh xuống làm
người chấp hành công việc Giao Châu. Vua Tống y cho” (4). Nhưng
trong thực tế, Nhân vẫn giữ cương vị thứ sử. Sau Nhân, nhà Tề thuận cho
người họ hàng là Lư Thúc Hiến thay chân thứ sử (479). Nhưng 6 năm sau
(485), Lư Thúc Hiến không chịu cống nạp, nhà Tề sai Lưu Khải dẫn quân
binh sang đánh. Hiến phải xin băi binh; Lưu Khải làm thứ sử.
Sau đó, năm Ất dậu (505), lại diễn ra
cuộc tranh chống giữa quan lại nhà Tề với quan lại nhà Lương, khi nhà Tề
đă bị tiêu vong ở Trung Hoa (5)! (6).
b. Gọng ḱm Lâm Ấp (Chiêm
Thành)
Thêm một nỗi khổ hoạ nữa cho xứ Giao
Châu, đó là xâm lấn của nước Lâm Ấp ở phía nam. Sau cuộc khởi nghĩa của
Khu Liên (năm Đinh sửu, 137) ở huyện Tượng Lâm, thuộc quận Nhật Nam,
nước Lâm Ấp bắt đầu lập quốc. Đến nay, Lâm Ấp muốn bành trướng lănh thổ
của ḿnh, bằng cách đánh vào nước Phù Nam phía Nam (vùng Nam bộ Việt Nam
ngày nay) và liên tục đánh ra phía bắc (Nhật Nam, Cửu Chân và Giao Chỉ [Thừa
Thiên – Lạng Sơn ngày nay])! Các cuộc xâm chiếm khốc liệt nhất của Lâm
Ấp vào Cửu Chân, Giao Chỉ là vào các năm: Kỉ hợi (399), Quư sửu (413),
Ất măo (415); cho đến năm Canh thân (420), thứ sử Giao Châu (Đỗ Tuệ Độ,
người Tàu (***), nhà Tấn) đánh Lâm Ấp, giết chóc nhân dân Lâm Ấp đến
quá nửa dân số (7). Tuy vậy, tham vọng bành trướng lănh thổ của Lâm
Ấp vẫn chưa thôi. Đây là bi kịch chua xót nhất trong quy luật
về sự tồn sinh của mọi sinh vật, nhất là sinh vật cấp cao là
động-vật-người (****)!
Trận Lâm Ấp đánh phá Cửu Chân lại diễn
ra tiếp theo vào năm Tân mùi (431). Trận này thứ sử Giao Châu Nguyễn Di
Chi (người Tàu) phản công và tiến công, nhưng không thể thắng Lâm Ấp,
đành rút quân về. Sau đó, vua nước Lâm Ấp là Phạm Dương Mại lại sai sứ
sang Trung Hoa, xin nhà Tống cho Lâm Ấp cai quản cả Giao Châu ta. Đó là
sự kiện diễn ra vào năm Quư dậu (433) Tàu cai quản Giao Châu, đánh bại. Họ Đàn
kéo quân vào đến tận kinh đô Lâm Ấp, vơ vét, giết chóc.
Nước ta bị siết chặt giữa hai gọng ḱm
lịch sử. Một khổng lồ, một sắc nhọn! Dẫu sắc nhọn, gọng ḱm Lâm Ấp (về
sau là Hoàn Vương, Chiêm Thành) khởi đầu và chung quy vẫn là vấn đề nội
bộ của lịch sử Việt Nam. Trung Hoa, bấy giờ và măi đến mấy trăm năm sau,
c̣n là một cái ách đô hộ nặng nề, đầy đau đớn, tủi nhục.
2
Cuộc khởi nghĩa Lư Bí (Lư Bôn)
và việc thành lập triều đại Tiền
Lư (544 – 548)
Theo Toàn thư và Cương mục,
Lư Bí c̣n có tên gọi là Lư Bôn, vốn có gốc gác là người Trung Hoa. Từ 6
đời trước, thời Tây Hán ([-206] – [+ 8]), tổ tiên Lư Bí đă tránh loạn
trên đất Hán, sang cư trú tại nước ta, ḍng dơi là hào trưởng. “Đến
Lư Bôn là đời thứ bảy, đă trở thành người Phương
Nam
(8). Lư Bôn tài kiêm văn vơ, làm quan triều Lương, coi đạo quân Cửu Đức.
V́ bất đắc chí, nên về Thái B́nh khởi binh. Tù trưởng huyện Chu Diên (9)
là Triệu Túc cũng đem quân theo
Lư Bôn. [Thứ sử triều Lương
– ct.] Tiêu Tư biết rơ việc ấy, đem tiền đút lót cho Lư Bôn rồi chạy
về Quảng Châu (10). Lư Bôn liền giữ thành Long Biên” (11). Ngoài
Triệu Túc, một người thuần Việt (làm
tù trưởng), c̣n có Tinh Thiều, một người học giỏi, lại có tài văn chương,
đă lặn lội sang đến kinh đô nhà Lương để ứng tuyển làm quan. Bấy giờ, ở
Trung Hoa, dưới triều Lương, thể chế tuyển dụng căn cứ vào ḍng dơi (sĩ
tộc: quan muôn đời làm quan; hàn tộc: dân muôn đời chân lấm tay bùn!).
Hơn nữa, cho dù bất ḱ ai có gốc gác là sĩ tộc Trung Hoa, nhưng di cư
sang Giao Châu, cũng bị liệt vào loại hàn tộc. Do đó, ở trường hợp Thiều,
thượng thư Bộ Lại triều Lương căn cứ vào lí lịch họ Tinh, thấy
không có ai hiển đạt, nên chỉ bổ cho Tinh Thiều làm Quảng Dương môn lang,
một chức việc trông gác cổng thành có tên là cửa Dương Quang! Thiều xấu
hổ, trở về, mưu việc khởi binh với Lư Bôn. “Giữa lúc đó
thứ sử Giao Châu là Tiêu Tư v́ tàn bạo, khắc nghiệt, mất ḷng dân. Hai
người, Lư Bôn và Tinh Thiều, nhân đấy liên kết với mấy châu; các hào
kiệt đều hưởng ứng, theo cả” (11).
Cuộc khởi nghĩa này, có một nguyên nhân,
như Toàn thư và Cương mục đă ghi rơ, Đào Duy Anh đă tŕnh bày thêm:
“Người Trung Hoa đă di cư sang Giao Châu lâu đời th́ dù có phải nguồn
gốc sĩ tộc cũng bị xem là hàn tộc, cho nên người Giao Châu, trừ những
thời Trung Quốc có loạn, từ thời Tam Quốc về sau không được bổ chức quan
cao nữa – không như thời Hán, thỉnh thoảng có người sinh trưởng ở Giao
Châu, như Lư Tiến, Trương Trọng, được bổ quan lại cao cấp. Đó là một
nguyên nhân tăng thêm mâu thuẫn giữa tầng lớp hào trưởng bản quốc đối
với quan lại Trung Quốc. Phần tử lănh đạo của cuộc khởi nghĩa
quan trọng này đa số chính là thuộc thành phần ấy” (11).
Với nguyên nhân như thế, cuộc khởi nghĩa
đă nổ ra.
Sử cổ cũng chép, cuộc khởi nghĩa của Lư
Bí (Bôn) giành chính quyền không gặp phải sự chống cự của thứ sử người
Hán là Tiêu Tư (họ Lương, thân thuộc vua Lương) và quân binh của y.
Sau đó, nhà Lương sai quan tướng sang
tái chiếm. Toàn thư chép, vào năm Nhâm tuất (542), v́ khí độc,
nên: “bọn Tử Hùng đi đến Hợp Phố, 10 phần chết đến 6, 7 phần, quân
tan ră mà về. Tiêu Tư tâu với vua Lương rằng Quỳnh và Tử Hùng dùng dằng
không chịu đi, đều bị buộc phải tự tử” (12).
Đơn giản là thế. Tuy vậy, Lư Bôn vẫn rèn
luyện quân binh, lo việc pḥng thủ. Trận chiến đấu đầu tiên xảy ra vào
hai năm sau (Quư hợi, 543), lại gặp đối phương chính là quan tướng Lâm
Ấp! Phạm Tu, một viên tướng của Lư Bôn, đánh tan quân Lâm Ấp ngay tại
Cửu Đức (Hà Tĩnh).
Năm Giáp tí (544), “Tháng giêng, mùa
xuân. Lư Bôn tự xưng là Nam Việt đế, đặt niên hiệu là Thiên Đức, tên
nước là Vạn Xuân […]. Dựng điện Vạn Xuân để làm chỗ triều hội. […] Đặt
ra trăm quan. Dùng Triệu Túc làm thái phó, Tinh Thiều làm tướng văn,
Phạm Tu làm tướng vơ ” (13).
Cương mục
chép tiếp: “Năm Ất sửu (545). ([Tiền]
Lư, năm Thiên Đức thứ 2; Lương, năm Đại Đồng thứ 11). Tháng 6, mùa hạ.
Triều Lương sai Dương Phiếu, Trần Bá Tiên sang đánh.
Nam Việt đế Lư Bôn chạy sang Gia Ninh”
(14).
“Năm Bính dần (546). […]. Tháng giêng,
mùa xuân. Bọn Dương Phiếu đánh được thành Gia Ninh, Nam Việt đế Lư Bôn
chạy đi Tân Xương. […] Mùa thu, tháng tám.
Nam Việt đế Lư Bôn đóng đồn ở hồ
Điển Triệt. Quân Lương đến đánh, quân Lư Bôn bị vỡ, rút vào giữ động
Khuất Lạo. […] Sử cũ chép: Nam Việt đế Lư Bôn lại rút lui, giữ trong
động Khuất Lạo, điều chỉnh binh lính, mưu tính chiến đấu về sau; giao cả
cho tả tướng quân Triệu Quang Phục [con trai của Triệu Túc – ct.] giữ
nước, cầm quân chống nhau với Bá Tiên” (15).
“Năm Mậu th́n (548). ([Tiền] Lư, năm
Thiên Đức thứ 5; Lương, năm Thái Thanh thứ 2). Tháng 3, mùa xuân. Nam
Việt đế Lư Bôn mất ở động Khuất Lạo. Nam Việt đế Lư Bôn ở động Khuất Lạo,
bị cảm mạo khí lam chướng, đến năm này mất” (16).
Như vậy, nhà Tiền Lư chỉ tồn tại được 5
năm (544 – 548).
Có lẽ lời châu phê của Tự Đức cũng đă
rộng răi lắm về Lư Bôn: “Nam đế nhà [Tiền] Lư dẫu sức không địch nổi
giặc Lương đến nỗi công cuộc không thành, nhưng đă biết nhân thời cơ
vùng dậy, tự làm chủ lấy nước ḿnh, đủ làm thanh thế mở đường cho nhà
Đinh, nhà Lư sau này. Vậy việc làm của Lư
Nam đế há chẳng hay lắm sao?” (17).
Phải chăng tài năng của Lư Bôn là đă
phân tích nhạy bén, chính xác về thời thế, cụ thể là sự suy yếu trước
mắt và suy vong tất yếu sẽ xảy ra không xa của nhà Lương, và đă biết
chớp lấy thời cơ. Ngoài ra, nguồn gốc, nguyên nhân của khởi nghĩa và tài
thao lược của Lư Bôn là không có ǵ đáng ca ngợi.
Lư Bôn (Lư Bí) chính là một nguỵ quan
của bọn phong kiến nhà Lương (Trung Hoa) xâm lược, cho dù chỉ là nguỵ
quan cấp thấp. Lư Bôn “bất đắc chí” trong quá tŕnh làm nguỵ quan,
hay nói như Toàn thư, “làm quan không được vừa ư” (18).
Tinh Thiều cũng có ư muốn và đă thực sự dấn thân vào con đường làm nguỵ
quan cho giặc xâm lược, nhưng chua xót thay, lại bị vướng phải thể chế
lí lịch (hàn tộc chứ không phải sĩ tộc, lại là lưu dân Trung Hoa sang
đất Việt đă bị Việt hoá), không lên cao được trên con đường quan chức
Trung Hoa. Cả hai đều tầm thường. Họ là điển h́nh của bi kịch lưu dân,
vừa bị chính nước tổ (nước gốc Trung Hoa) bạc đăi v́ thiếu tin tưởng,
vừa bị chính nhân dân nước ngụ cư (Giao Châu [nước Việt]) nghi ngại.
Cuộc nổi dậy của họ chỉ xuất phát từ bất măn cá nhân trước bọn chóp bu
xâm lược và thể chế lí lịch của chúng.
Tuy nhiên, phải thấy thêm phân số
Việt hoá trong huyết thống và bản chất văn hoá cá nhân của họ. Không
những một thế hệ, mà đến bảy thế hệ gắn bó với người Việt, dẫu họ thế
nào chăng nữa cũng có t́nh cảm gắn bó máu thịt với Giao Châu của người
Việt.
Toàn thư
vẫn ghi nhận với ngọn bút khoan dung:
“Vua có chí diệt giặc cứu dân, không may bị Trần Bá Tiên sang đánh chiếm,
nuốt hận mà chết. Tiếc thay!” (19) .
Chính tù trưởng Triệu Túc và nhất là con
trai của ông, Triệu Quang Phục, mới là nhân vật đáng nể trọng.
3
Cuộc trường ḱ kháng chiến của
nhân dân ta,
do Triệu Quang Phục lănh đạo:
triều đại Triệu Việt vương (549 –
570)
a. Triệu Quang Phục,
nhân vật lịch sử hay huyền thoại?
Triệu Túc? và Triệu Quang Phục?
Là tù trưởng huyện Chu Diên (ở
khoảng huyện lị Phả Lại, tỉnh Hải Hưng (20)), chắc chắn Triệu Túc là
người thuần Việt.
Sử học không cho phép chúng ta suy diễn.
Tuy nhiên, vẫn có thể chấp nhận những giả thuyết có một vài luận cứ khả
dĩ (mặc dù chưa hội đủ luận cứ khoa học để kết luận khoa học). Nếu chi
tiết Trần Trọng Kim đưa ra trong Việt
Nam sử lược sẽ được kiểm chứng lại là đúng, chúng ta có thêm dữ liệu để làm
luận cứ. Chi tiết ấy là: “Về sau, vua Nam đế nhà Tiền Lư khen [Triệu
Thị Trinh] là người trung dũng, sai lập miếu thờ, phong là: ‘Bật
chính anh liệt hùng tài trinh nhất phu nhân’ ” (20). Như vậy, Lư Bôn
đă thể hiện ḷng yêu nước (Giao Châu) trong việc sắc phong Triệu Thị
Trinh cũng như việc dùng tù trưởng Triệu Túc làm thái phó, tướng vơ của
triều đ́nh nước Vạn Xuân. Một luận cứ nữa, về nguồn gốc dân tộc Triệu
Quốc Đạt (anh ruột của Triệu Thị Trinh), theo ghi nhận của Cương mục:
“Đến khi giặc Man Di quận Cửu Chân đánh và hạ được các thành ấp, Giao
Châu náo động” (21). Rơ ràng bọn Tàu thực dân ghi nhận anh em Triệu
Quốc Đạt – Triệu Thị Trinh là Man Di (cách gọi ngạo mạn của chúng).
Khẳng định như vậy, để đi đến ư tưởng
sau đây: Tôi không có ư suy diễn điên rồ rằng, Triệu Quang Phục chính
là hậu duệ của tên giặc Triệu Đà (kẻ giương cờ Tần Thuỷ hoàng xâm lược
nước ta), nay muốn quang phục (khôi phục sự vẻ vang) cơ nghiệp cũ
của tổ tiên. Tôi b́nh tâm tin tưởng, chính tù trưởng Triệu Túc
muốn khôi phục lại sự vẻ vang của cuộc khởi nghĩa Triệu Thị Trinh, một
nữ anh hùng (người Mường?) đă v́ nước, v́ dân tộc mà tổ chức, lănh đạo,
chiến đấu chống bọn phong kiến Trung Hoa xâm lược, chiếm đóng.
Vả lại, thật sự trong tâm thức dân gian,
ở di tích tín ngưỡng, quần chúng nhân dân lại đồng nhất Triệu Quang Phục
với truyền thuyết lịch sử An Dương vương: không phải đồng nhất hoá
Triệu Đà với Triệu Quang Phục, mà lạ thay, ngược lại, nhân dân đă
đồng nhất An Dương vương với Triệu Quang Phục! Không những thế,
truyền thuyết từ thời vua Hùng (trước công nguyên Tây lịch) là truyện
Tiên Dung (công chúa) – Chử Đồng Tử (ngư dân nghèo khổ) lại được phục
hiện ở nhân vật lịch sử Triệu Quang Phục (ở ngôi: 548 – 570), thế kỉ thứ
VI, với sự phù hộ của Chử Đồng Tử đối với Triệu Quang Phục.
Có điều ǵ lạ lùng ở lớp sương mù huyền
thoại bao phủ lên nhân vật lịch sử này? Cũng chính v́ sự oái oăm, trái
ngược nào đó trong lớp sương mù huyền thoại ấy, nên một số nghi ngại về
tính xác thực nẩy sinh:
◘ Toàn thư ghi chú ngay dưới đầu
đề kỉ Triệu Việt vương: “(Xét Sử cũ không chép Triệu Việt vương và
Đào Lang vương, nay nhặt trong dă sử [sử do dân dă lưu giữ
trong kí ức, ở thần tích – ct.] và các sách khác, bắt đầu chép vị
hiệu của vương và phụ chép Đào Lang vương để bổ sung)” (22).
◘ Cương mục lại ghi lời chua dẫn
“theo sách Thanh nhất thống chí, Dạ Trạch thuộc huyện Đông Kết,
phủ Kiến Xương. Thời Lương Vũ đế, Trần Bá Tiên đánh Lư Bôn, Lư Bôn trốn
vào trong chằm [trằm – ct.] này, đêm đến đem quân ra đánh; nhân
thế gọi là Dạ Trạch. Huyện Đông An trước gọi là Đông Kết” (23).
Chẳng lẽ Lư Bôn chính là Triệu Quang Phục? Hay Lư Bôn c̣n có một cái tên
khác, đó là Triệu Quang Phục?
◘ Cương mục lại ghi lời cẩn án:
“Sử cũ chép việc Triệu Việt vương được cái móng rồng của Chử Đồng Tử
cho; việc Nhă Lang sang gửi rể rồi lấy trộm móng rồng; việc Triệu Việt
vương v́ mất cái móng rồng mà bị thua. Đem những chuyện ấy mà kháp với
truyện Thục An Dương vương và Triệu Trọng Thuỷ trước kia, giống nhau như
hệt, ḱ quái tưởng không cần biện bạch cho lắm. Nhưng Sử cũ chép phần
nhiều trùng điệp nhau, sai hẳn sự thực, đại loại như thế đấy. Nay muốn
t́m ở Sử cũ lấy chuyện có thể tin ở đời này và truyền lại đời sau, thật
cũng khó lắm” (24).
◘ Theo Đào Duy Anh, nhà nghiên cứu sử
học người Pháp H. Maspéro cũng đă từng nêu vấn đề nghi hoặc về Triệu
Quang Phục: Triệu Quang Phục là nhân vật lịch sử có thật hay chỉ đơn
thuần là huyền thoại, là sản phẩm của tưởng tượng, của tín ngưỡng. Nhưng
Đào Duy Anh phản bác lại: “Maspéro lại nói rằng sử sách Trung Quốc
không hề biết đến tên Triệu Quang Phục. Đó cũng không phải là lí do xác
tạc, v́ thời gian hoạt động của Triệu Quang Phục chính là thời mà nội
t́nh Trung Quốc rất rối loạn, rất có khả năng rằng sử sách Trung Quốc
bấy giờ không biết hết những sự việc xảy ra ở Giao Châu […]. Vậy th́,
trong khi vấn đề chưa giải quyết dứt khoát được, chúng ta hăy tạm thời
cứ bằng vào sử cũ mà chép chuyện Triệu Quang Phục ở giữa chuyện Lư Bôn
và chuyện Lư Phật Tử” (25). Đào Duy Anh c̣n xác định trước: chuyện
Lư Bôn và Lư Phật Tử sử ta và sử Trung Quốc đều có chép cả, duy trừ
chuyện Triệu Quang Phục là sử Trung Quốc không chép mà thôi (25).
Rốt lại, có ba khía cạnh quan trọng của
vấn đề đặt ra:
▪ Nguồn gốc dân tộc của Triệu Quang Phục?
▪ Tại sao nhân gian lại đồng nhất Triệu
Quang Phục với An Dương vương?
▪ Triệu Quang Phục là nhân vật lịch sử
hay sản phẩm của tưởng tượng?
Thử trả lời:
▪ Triệu Quang Phục là người bản xứ, cha
ruột là tù trưởng bộ lạc (trưởng tộc của một họ tộc trong làng
thôn Việt Nam cổ [Giao Châu]); không thể là người Hán – Hoa được.
Toàn thư và Cương mục đă xác quyết điều đó bằng hai chữ “tù
trưởng”. Triệu Quang Phục cùng cha ruột muốn khôi phục sự vẻ vang
của nữ tướng Man Di Triệu Thị Trinh (người Mường?).
▪ Triệu Quang Phục chính là h́nh ảnh An
Dương vương bị mất vương triều vào tay Lư Phật Tử (họ hàng của Lư Bôn).
Nhân dân xác quyết như thế để đánh tan sự nghi ngờ do cái tên gợi ra.
Người ta rất dễ suy diễn Triệu Quang Phục là hậu duệ Triệu Đà và mưu
toan quang phục cơ nghiệp của Triệu Đà. V́ vậy, nhân dân phải xác quyết
ngay rằng Triệu Quang Phục chính là An Dương vương, chứ không phải Triệu
Đà, mặc dù ông có trùng họ với Triệu Đà. Lư Phật Tử (gốc Hán tộc) mới
chính là Triệu Đà (người Hán chính cống).
▪ Như chúng ta đă trích dẫn và đă biết,
“theo sách Thanh nhất thống chí, […] Trần Bá Tiên đánh Lư Bôn,
Lư Bôn trốn vào trong chằm [trằm – ct.] này, đêm đến đem quân ra
đánh; nhân thế gọi là Dạ Trạch” (23). Như vậy, sử Trung Hoa
cũng có ghi nhận về hành trạng kháng chiến của Dạ Trạch vương, nhưng ngỡ
rằng Lư Bôn chưa bị cảm mạo mà chết. Chính nhân vật Lư Bôn trong Thanh
nhất thống chí là Triệu Quang Phục, c̣n Lư Bôn thật đă chết v́ bệnh
trước đó, và trước khi chết, Lư Bôn đă trao binh quyền cho Triệu Quang
Phục.
Kết luận: Triệu Quang Phục là nhân vật
lịch sử có thật. Lớp sương mù truyền thuyết thời vua Hùng – An Dương
vương (trước c. ng.) đă được nhân dân phục hiện quanh Triệu Quang Phục (thế
kỉ thứ VI) với ư nghĩa và mục đích như đă tŕnh bày. Hăy cởi bỏ lớp áo
khoác (truyền thuyết phục hiện) bên ngoài ấy, sẽ thấy hiện ra con người
lịch sử Triệu Quang Phục thuần Việt, có thật.
Phải nói thêm rằng: Thế kỉ thứ VI không
c̣n là thời đại huyền sử nữa. Thời ḱ huyền sử đă chấm dứt từ sau bi
kịch An Dương vương (năm Giáp ngọ, 207 tr. c. ng.). Tuy nhiên yếu tố
thần thoại, truyền thuyết bao giờ cũng c̣n, ngay giữa thời vi tính điện
tử (thế kỉ XXI này), như một chất thơ với những ẩn dụ, hoặc như một thủ
pháp nghệ thuật (chủ nghĩa hiện thực huyền ảo lành mạnh). Do đó,
Triệu Quang Phục không phải là h́nh tượng huyền thoại, truyền thuyết
lịch sử mà chính là nhân vật lịch sử được điểm tô thêm bằng ẩn dụ lấy
từ truyền thuyết lịch sử xa xưa.
b. Tư liệu gốc của ta về Triệu
Quang Phục:
Toàn thư
viết: Lư Bôn “uỷ cho đại
tướng là Triệu Quang Phục giữ việc nước, điều quân đi đánh Bá Tiên. Đinh
măo [Thiên Đức] năm thứ 4 [547], (Lương, Thái Thanh năm thứ 1). Mùa
xuân, tháng giêng, ngày 1, nhật thực. Triệu Quang Phục cầm cự với Trần
Bá Tiên, chưa phân thắng bại. Nhưng quân của Bá Tiên rất đông, Quang
Phục liệu thế không chống nổi bèn lui về giữ đầm Dạ Trạch. Đầm này ở
huyện Chu Diên, chu vi không biết bao nhiêu dặm, cỏ cây um tùm, bụi rậm
che kín, ở giữa có nền đất cao có thể ở được, bốn mặt bùn lầy, người
ngựa khó đi, chỉ có dùng thuyền độc mộc nhỏ chống sào đi lướt trên cỏ
nước mới có thể đến được. Nhưng nếu không quen biết đường lối th́ lạc,
không biết là đâu, lỡ rơi xuống nước liền bị rắn độc cắn chết. Quang
Phục thuộc đường đi lối lại, đem hơn 2 vạn người vào đóng ở nền đất
trong đầm, ban ngày tuyệt không để lộ khói lửa và dấu người, ban đêm
dùng thuyền độc mộc đem quân ra đánh doanh trại của quân Bá Tiên, giết
và bắt sống rất nhiều, lấy được lương thực để làm kế cầm cự lâu dài. Bá
Tiên theo hút mà đánh, nhưng không đánh được. Người trong nước gọi là Dạ
Trạch vương” (29).
Toàn thư
ghi chú: đó là nơi Tiên Dung và Chử
Đồng Tử sống bên nhau: đầm Nhất Dạ (29).
Toàn thư
viết tiếp: “… Kỉ tị, năm thứ 2 [549]
[…]. Từ đó quân thanh lừng lẫy, đến đâu không ai địch nổi (tục truyền
rằng thần nhân trong đầm là Chử Đồng Tử bấy giờ cưỡi rồng vàng từ trên
trời xuống, rút móng rồng trao cho vua, bảo cài lên mũ đâu mâu mà đánh
giặc)” (30).
“Canh ngọ, năm thứ 3 [550]. Mùa xuân,
tháng giêng, nhà Lương cho Trần Bá Tiên làm Uy minh tướng quân Giao Châu
thứ sử. Bá Tiên lại mưu tính cầm cự lâu ngày khiến cho ta lương hết quân
mỏi th́ có thể phá được. Gặp lúc nhà Lương có loạn Hầu Cảnh, gọi [Bá
Tiên] về, uỷ cho t́ tướng là Dương Sàn đánh nhau với vua. Vua
tung quân ra đánh. Sàn chống cự, thua chết. Quân Lương tan vỡ chạy về
Bắc. Nước ta được yên. Vua vào thành Long Biên ở” (31).
Trong khi đó, Lư Thiên Bảo (anh của Lư
Bôn) đă lập ra nước Dă Năng ở vùng đất của người Di Lạo. Một thời gian,
ông qua đời, không có con nối ngôi, nên trao quyền chức lại cho người bà
con cùng họ là Lư Phật Tử.
Lư Phật Tử kéo quân về đánh Triệu Quang
Phục (Triệu Việt vương). Nội chiến nổ ra qua 5 trận đánh! Lư Phật Tử xin
hoà. “Vua nghĩ rằng Phật Tử là người họ của Lư Nam đế, không nỡ cự
tuyệt, bèn chia địa giới ở băi Quân Thần (nay là hai xă Thượng Cát, Hạ
Cát ở huyện Từ Liêm) cho ở phía tây của nước, [Phật Tử] dời đến thành Ô
Diên (nay là xă Hạ Mỗ, huyện Từ Liêm, xă ấy có đền thờ thần Bát Lang,
tức là đền thờ Nhă Lang vậy)” (32).
Chuyện lại diễn ra y hệt như bi kịch An
Dương vương. Trọng Thuỷ chính là Nhă Lang! Tuy nhiên, dẫu sao Trọng Thuỷ
c̣n biết hối hận đến mức tự sát; c̣n Nhă Lang, sử sách không ghi một
ḍng nào như thế. Rơ ràng, Trọng Thuỷ c̣n được thờ để c̣n nhớ chút ḷng
hối hận của một tên giặc nội gián. Nhưng Nhă Lang? Nếu y không biết hối
hận như Trọng Thuỷ, sao lại c̣n được thờ phụng? Chỉ có thể trả lời: Dân
gian đâu phải việc ǵ cũng đúng! Vả lại, trong dân gian c̣n có sự phân
hoá chính kiến! Phe nhân dân ủng hộ Lư Phật Tử thờ Nhă Lang chăng? Trong
lời b́nh, Ngô Sĩ Liên cung cấp một chi tiết: “Nhă Lang th́ chết trước,
bản thân [Lư Phật Tử – ct.] cũng không khỏi làm tù” (33). Như vậy,
phải chăng chính Lư Phật Tử ra lệnh lập đền thờ Nhă Lang, chứ không phải
nhân dân? Dẫu sao, cũng lưu ư, không phải mọi thần tích (di tích tín
ngưỡng), ca dao lịch sử đều chính xác tất thảy. Nhân dân cũng có phân
số mù quáng.
Khía cạnh khác, Toàn thư và Cương
mục đều ghi nhận một chi tiết rất thật: hai địa danh Thượng Cát, Hạ Cát
nguyên tên cổ là Thượng Cát Giới, Hạ Cát Giới với chữ “cát” có nghĩa là
“cắt” (ranh giới) (34).
Và như Triệu Đà thuở xa xưa, Lư Phật Tử
lên ngôi, tự xưng là Hậu Nam đế, triều đại kéo dài đến ba mươi hai năm (571 – 602). Cuối cùng,
“Năm Nhâm tuất (602), […], nhà Tuỳ sai Lưu Phương sang xâm lấn. Đế Phật
Tử ra hàng” (35)! Cương mục c̣n viết: “Phật Tử sợ, xin hàng”
(35). Nếu chưa chiến đấu mà đă xin hàng th́ thật ô nhục!
Như đă tŕnh bày, sự thật lịch sử về
Triệu Quang Phục và Lư Phật Tử đă được nhân gian phủ lên một lớp sương
mù huyền sử. Nói chính xác hơn, Triệu Quang Phục là nhân vật không
c̣n thuộc thời ḱ huyền sử, nhưng là nhân vật lịch sử được điểm tô thêm
bằng ẩn dụ lấy từ truyền thuyết lịch sử xa xưa.
Gạt đi các ẩn dụ lấy từ truyền thuyết,
sẽ c̣n lại sự thật lịch sử.
a. Các sử gia b́nh luận
về Triệu Quang Phục:
Toàn thư
đă viết: “Vua giữ đất hiểm, dùng ḱ
binh để đánh giặc lớn, tiếc v́ quá yêu con gái đến nỗi mắc hoạ v́ con rể”;
“Vua họ Triệu, tên huư là Quang Phục, là con Triệu Túc, người Chu Diên,
uy tráng dũng liệt, theo Nam đế đi đánh dẹp có công, được trao chức tả
tướng quân” (36).
Có thể nói, Triệu Quang Phục là vị tổ
của chiến thuật du kích.
Về việc mắc mưu kế hôn nhân – nội gián,
Ngô Sĩ Liên nhận xét: “Đàn bà gọi việc lấy chồng là “quy” th́ nhà
chồng tức là nhà ḿnh. Con gái vua đă gả cho Nhă Lang th́ sao không cho
về nhà chồng mà lại theo tục gửi rể của nhà Doanh Tàn để đến nỗi bại
vong” (37)!
Mưu kế hôn nhân – nội gián ấy, thời nay,
đa số vợ chồng trẻ đều ra riêng (sống ở nhà riêng), hẳn cũng khó ḷng
cho lực lượng thù địch, ngoại xâm trong việc “cài người”, nhưng
vẫn là bài học kinh nghiệm lịch sử.
4
Kết luận
Trong t́nh thế bị kẹp giữa hai gọng ḱm
lịch sử (Trung Hoa, Lâm Ấp) và dưới ách đô hộ tàn bạo (Trung Hoa) như
thế, dẫu sao, Lư Bí (Lư Bôn), Triệu Quang Phục vẫn bẻ găy được gọng ḱm
nhỏ nhưng sắc nhọn là Lâm Ấp, đập tan cả gọng ḱm lớn và ách đô hộ
nghiệt ngă Trung Hoa, để xây dựng được một triều đại tự chủ, độc lập cho
dân tộc, kéo dài đến gần 60 năm (544 – 602). Trong đó, có ba mươi hai
năm (571 – 602) Lư Phật Tử nắm ngai vàng, thực ra cũng là nhờ công lao
kháng chiến gian khổ và oai danh của Lư Bôn (5 năm) và của Triệu Quang
Phục (22 năm). Toàn thư và Cương mục đă phê phán Lư Phật Tử thật
đích đáng, tôi thấy không cần phải trích dẫn ở đây.
Tôi chỉ đề cao mỗi một Triệu Quang Phục.
Triệu Quang Phục măi măi là một nhân vật
lịch sử cao đẹp, uy dũng và bi tráng.
Tôi muốn được một lần nữa lặp lại để
nhấn mạnh điều này: Triệu Quang Phục là nhân vật không c̣n thuộc thời
ḱ huyền sử, nhưng là nhân vật lịch sử được điểm tô thêm bằng ẩn dụ lấy
từ truyền thuyết lịch sử xa xưa.
Triệu Quang Phục măi măi là một chiến
tướng lớn, vị tổ của chiến thuật du kích, một vị vua kháng chiến
thắng lợi của người Việt Nam chúng ta.
TP. HCM., viết xong
lúc 16 giờ 01 phút,
ngày 09. 07. HB4 (22
.05 G. thân HB4).
TRẦN XUÂN AN
Cước chú
của bài Cuộc khởi nghĩa của Lư Bí (nhà Tiền Lư)…:
(*) Gọi là nhà Tiền Lư và nhà Hậu Tiền Lư để phân biệt với
nhà Hậu Lư (Lư Công Uẩn) về sau. Gọi là nhà Triệu – Việt để phân biệt
với nhà Triệu – Hán (Triệu Đà) thuở trước.
(**) Xem thêm: La Quán Trung, Tam quốc diễn nghĩa, tiểu
thuyết lịch sử, viết theo quan điểm phù Hán.
(1) Khâm định Việt sử thông giám cương mục (1884) (gọi tắt là
Cương mục), tiền biên và chính biên, bản dịch (2 tập), tập 1, Nxb. Giáo
Dục, 1998, tr. 144 (Tb. [tiền biên], q. [quyển] III, [tờ] 10).
(2) Năm sau, Ất dậu (265), mới là năm Thái Thuỷ thứ 1 của nhà
Tấn, đời Vũ đế. Lúc này (264) vẫn c̣n là niên hiệu nhà Ngụy.
(3) Kể thêm hai triều Ngô (222 – 280), Đông Tấn (317 – 420)
trước đó, sử sách thường gọi là Lục triều. Cương mục, sđd., tập 1, tr.
166 (Tb. [tiền biên], q. [quyển] III, [tờ] 33): Cước chú của dịch giả Tổ
Biên dịch VSH.: “Theo Tống sử, truyện Trương Thủ, […], sáu triều đại này
kế tiếp nhau đóng đô ở Kiến Khang, tức Nam Kinh bây giờ”.
(4) Cương mục, sđd., tập 1, tr. 162 (Tb., III, 29). Cương mục
và Toàn Thư (Đại Việt sử kí toàn thư [gọi tắt là Toàn thư], bản in nội
các quan bản [1697], bản dịch [3 tập], tập 1, Nxb. Văn hoá – Thông tin,
2003), hai bộ sử của nước ta đều chép Lư Trường Nhân là người Giao Châu.
Trường hợp Lư Trường Nhân cũng như Lương Long (khởi nghĩa năm Tân dậu
[181], xem: Cương mục, sđd., tập 1, tr. 126 [Tb., II, 23 – 24], hiện
nay, chưa có tư liệu để xác định cụ thể về nguyên quán và dân tộc của
hai nhân vật này. Tôi đoán rằng, đó là hai người Bách Việt ta trên vùng
đất phía bắc thuộc lănh thổ Giao Chỉ bộ (Giao Châu). Lư Trường Nhân (năm
468) có lẽ có quê quán cụ thể là quận Hợp Phố (Tượng Quận, về sau gọi là
Liêm Châu), tức là Quảng Đông (thuộc Trung Quốc) ngày nay. Xin xem thêm
cước chú (10).
(5) Cương mục, sđd., tập 1, tr. 164 (Tb., III, 31).
(6) Xem thêm: Phan Khoang, Trung Quốc sử lược, ấn quán Hồng
Phát, Chợ Lớn – Sài G̣n, 1958.
(***) Lê Tắc, An Nam chí lược (thuộc Tứ khố toàn thư, Trung
Hoa), bản dịch của Uỷ ban Phiên dịch sử liệu Viện Đại học Huế (GS. Trần
Kinh Hoà cố vấn), Viện Đại học Huế xb., 1961; Nxb. Thuận Hoá, TT. Văn
hoá – Ngôn ngữ Đông Tây tái bản, 2002, tr. 266 – 267: Lê Tắc xác định Đỗ
Tuệ Độ là con trai của Đỗ Viện, người huyện Chu Diên (xem (9)) thuộc
quận Giao Chỉ, đồng thời ghi lại ư kiến khác: Đỗ Viện người Kinh Triệu (Trung
Hoa), ông nội Viện làm thái thú Hợp Phố rồi định cư ở Giao Chỉ. Tôi nghĩ,
họ Đỗ này phải là người Hán mới được bổ nhiệm nhiều đời làm quan đến
chức thái thú các quận, và cả chức thứ sử Giao Châu.
(7) Cương mục, sđd., tập 1, tr. 158 (Tb., III, 24).
(****) Xin nhắc lại ư tưởng: vấn đề Lâm Ấp (Hoàn Vương, Chiêm
Thành) khởi đầu và chung quy vẫn là vấn đề nội bộ của lịch sử Việt Nam
(+) từ cổ đại (kể từ thời điểm Khu Liên kháng chiến chống nhà Hán [Trung
Hoa], tách ra khỏi cộng đồng dân tộc để lập vương quốc riêng, vào năm
Đinh sửu [137] ((()) cho đến khi lại sáp nhập hoàn toàn vào Việt Nam cận
đại (thời chúa Nguyễn Phúc Chu ở Đàng Trong, cũng năm Đinh sửu [1697]
(++). Trong những triều đại Lư, Trần, Hồ, Lê, Nguyễn về sau, số lượng
người Chăm ra Bắc Trung bộ, Bắc bộ định cư khá lớn.
(+) Nỗi đau lịch sử Chiêm Thành là nỗi đau nhập thân của Chế
Lan Viên, đồng thời đó cũng là nỗi đau thời Pháp thuộc với nhận thức,
tín niệm về nhân quả – nghiệp chướng của ông, thể hiện trong tập thơ
Điêu tàn. Nỗi đau Điêu tàn ấy được cảm nhận:
đức tin nghiệp
chướng ngây ngô
niềm mất nước hoá
giấc mơ kinh hoàng
thơ ai trên gạch
tháp Chàm
mười bảy tuổi, vội
Điêu tàn tóc xanh
bóng ma gào khóc
chiến tranh
đau trong đau, đă
kết thành, triệu năm…
TXA.
(++) Không phải là năm 192 như nhiều sách viết. Xem: Đào Duy
Anh, Lịch sử Việt Nam, Nxb. Văn hoá – Thông tin tái bản, 2002, tr. 121;
Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, Nxb. Tân Việt, 1964, tr. 328. Xin xem
thêm phụ lục thơ của người viết ở cuối sách.
(*****) Lê Tắc, An Nam chí lược, sđd., tr. 157 – 158 & tr.
60, 284: Xem bài biểu của vua nước Lâm Ấp đệ gửi vua Tống (Trung Hoa)
với ư muốn cai quản cả Giao Châu, trong cuốn sách này, số trang đă dẫn.
Lê Tắc xác định nước Lâm Ấp thành lập trên vùng đất nguyên là huyện
Tượng Lâm, nhưng chắc hẳn đă nhầm khi cho rằng huyện Tượng Lâm ấy chính
là quận Bố Chính thời Trần (nay là hai huyện Quảng Trạch, Bố Trạch ở
phía bắc Quảng B́nh). Thật ra, theo Đào Duy Anh (sđd., (***), tr. 122 –
125), huyện Tượng Lâm là đất tỉnh Quảng
Nam ngày nay (và kéo
dài đến đèo Đại Lănh, tỉnh Khánh Hoà hiện tại?!?), kinh đô của nước Lâm
Ấp là Trà Kiệu. Xem thêm: Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống
chí, Phạm Trọng Điềm dịch, Đào Duy Anh hiệu đính, tập 2, Nxb. Thuận Hoá,
1992, tr. 5 – 14.; chú thích (*) của phần phụ lục chương II, sách này.
(8) Cương mục, sđd., tập 1, tr. 168 (Tb., IV, 2). TXA. iđ &
ct. Theo lời chua & cước chú: Đền thờ Lư Bôn (Lư Bí) ở xă Từ Đường,
huyện Thuỵ Anh, phủ Thái B́nh, tỉnh Nam Định, nay là thôn Tử Các, xă
Thái Đô, huyện Thái Thuỵ, tỉnh Thái B́nh. Hẳn quê hương ông là ở đấy.
(9) Cương mục, sđd., tập 1, 114 (Tb., II, 10): Lời chua của
Quốc sử quán triều Nguyễn: Vĩnh Tường, tỉnh Sơn Tây (cước chú của dịch
giả: tỉnh Vĩnh Phúc).
(10) Cương mục, sđd., tập 1, tr. 144 (Tb., III, 10): “Năm
Giáp thân (264) […].Năm ấy, nhà Ngô cắt ba quận Nam Hải, Thương Ngô và
Uất Lâm đặt làm Quảng Châu, châu lị ở Phiên Ung; Giao Chỉ, Cửu Chân,
Nhật Nam và Hợp Phố làm Giao Châu, châu lị ở Long Biên. Việc chia ra
Giao Châu và Quảng Châu bắt đầu từ đấy”. Xem thêm: Cương mục, sđd., tập
1, tr. 168 (Tb., IV, 2): lời chua. TXA. iđ & ct.
(11) Cương mục, sđd., tập 1, tr. 167 (Tb., IV, 1). TXA. iđ &
ct.
(11) Cương mục, sđd., tập 1, tr. 167 – 168 (Tb., IV, 1). TXA.
iđ & ct. Xem thêm về thể chế tuyển dụng này trong cuốn Lịch sử Việt
Nam của Đào Duy
Anh, Nxb. VHTT, 2002, tr. 135.
(12) Toàn thư, sđd., tập 1, tr. 252 (NK., q. IV, tờ 15a –
15b); Cương mục, sđd., tập 1, tr. 169 (Tb., IV, 3). TXA. iđ & ct.
(13) Cương mục, sđd., tập 1, tr. 168 & 169 (Tb., IV, 1 & 3).
TXA. iđ & ct.
(14) Cương mục, sđd., tập 1, tr. 169 (Tb., IV, 3 – 4 ). TXA.
iđ & ct.
(15) Cương mục, sđd., tập 1, tr. 170 – 171 (Tb., IV, 4 – 5).
TXA. iđ & ct.
(16) Cương mục, sđd., tập 1, tr. 173 (Tb., IV, 7). TXA. iđ &
ct.
(17) Cương mục, sđd., tập 1, tr. 173 (Tb., IV, 7). TXA. iđ &
ct.
(18) Toàn Thư (Đại Việt sử kí toàn thư (gọi tắt là Toàn thư),
bản in nội các quan bản (1697), bản dịch (3 tập), tập 1, Nxb. Văn hoá –
Thông tin, 2003, tr. 251 (NK. [ngoại kỉ], q. [quyển] IV, [tờ] 15a).
(19) Toàn Thư, tập 1, sđd., tr. 250 (NK., q. IV, 14b).
(20) Toàn Thư, tập 1, sđd., tr. 251 (NK., q. IV, 15a): cước
chú của dịch giả Ngô Đức Thọ. Trích: Trần Trọng Kim, Việt
Nam sử lược, Nxb. Tân
Việt, 1964, tr. 52 – 53. TXA. iđ. & ct. Xem: Lư Tế Xuyên (Chư Cát thị
hiệu đính, bổ sung), Việt điện u linh, Trịnh Đ́nh Rư dịch, Đinh Gia
Khánh hiệu đính và bổ sung bản dịch, Nxb. Văn Học tái bản, 1972, tr.
125: Lư Bôn phong Triệu Thị Trinh là Giản chính phu nhân; nhà Hậu Lư gia
phong chữ Quư, truy tặng là Anh liệt phu nhân; nhà Trần lại gia phong:
Hùng tài, Vĩ tích, Anh mẫn, đến năm Hưng Long thứ 21 (triều Trần Anh
Tông, 1313), lại thêm một lần gia phong là Trinh nhất phu nhân.
(21) Cương mục, sđd., tập 1, tr. 143 (Tb., III, 9). TXA. iđ &
ct. Trần Trọng Kim hầu như cũng xác định “giặc Man Di quận Cửu Chân” ấy
chính là lực lượng do Triệu Quốc Đạt làm thủ lĩnh (xem (20)).
(22) Toàn Thư, tập 1, sđd., tr. 256 (NK., q. IV, 17b).
(23) Cương mục, sđd., tập 1, tr. 172 (Tb., IV, 7). TXA. iđ &
ct.
(24) Cương mục, sđd., tập 1, tr. 178 (Tb., IV, 12 – 13). TXA.
iđ & ct.
(25) Đào Duy Anh, Lịch sử Việt
Nam, Nxb. Văn hoá –
Thông tin tái bản, 2002, tr. 137 – 138. Đào Duy Anh căn cứ vào nghi vấn:
H. Maspéro, “La dynastie des Lư antérieurs = Nhà Tiền Lư”, BEFEO.
(Bulletin des l’Êcole française d’Extrême-Orient), XVI; và phản biện của
Đào Duy Anh.
(29) Toàn Thư, tập 1, sđd., tr. 254 – 255 (NK., q. IV, 17a –
17b). TXA. iđ & ct.
(30) Toàn Thư, tập 1, sđd., tr. 257 (NK., q. IV, 18b – 19a).
TXA. iđ & ct.
(31) Toàn Thư, tập 1, sđd., tr. 257 – 258 (NK., q. IV, 19a).
TXA. iđ & ct. Không lâu về sau, Trần Bá Tiên chính là kẻ cướp ngôi nhà
Lương để lập nên nhà Trần (557 – 590). Trần Hậu Chủ, tác giả bài Hậu
đ́nh hoa (“đêm đêm c̣n hát Hậu đ́nh hoa”), chính là con cháu Trần Bá
Tiên. Xem bài: “Bạc Tần Hoài” của Đỗ Mục, đời Đường (Trung Hoa).
(32) Toàn Thư, tập 1, sđd., tr. 258 – 259 (NK., q. IV, 19b –
20a). TXA. iđ & ct.
(33) Toàn Thư, tập 1, sđd., tr. 261 (NK., q. IV, 21b). TXA.
iđ & ct.
(34) Cương mục, sđd., tập 1, tr. 177 (Tb., IV, 12): lời chua
của Quốc sử quán triều Nguyễn và cước chú của dịch giả Hoa Bằng, Phạm
Trọng Điềm, Trần Văn Giáp (Viện Sử học).
(35) Cương mục, sđd., tập 1, tr. 179 (Tb., IV, 13 – 14). TXA.
iđ & ct.
Toàn Thư, tập 1, sđd., tr. 262 (NK., q. IV, 22a): Nguyên văn
bản dịch trong Toàn thư có ghi nhận rơ: “[Lưu Phương, tướng Tàu – ct.]
đến núi Đô Long gặp giặc cỏ, Phương đánh tan hết, rồi tiến quân sang đến
cạnh dinh vua [Lư Phật Tử – ct.], trước lấy hoạ phúc mà dụ. Vua sợ, xin
hàng, bị đưa về Bắc [tức Trung Hoa – ct.] rồi chết”. Cước chú của dịch
giả: “Nguyên văn [chữ Hán nguyên tác – ct.]: ngộ thảo tặc; hai chữ “thảo
tặc” đáng phải sửa lại là v́ soạn giả dùng sử liệu của Trung Quốc, không
chỉnh lí. Thông giám và Tuỳ thư, Lưu Phương truyện nói rơ đó là quân của
Lư Phật Tử, hơn hai ngh́n người” (bản dịch, sđd., tr. 262). TXA. ing.,
iđ & ct.
Như vậy, đội quân 2.000 viên lính ấy có thể là lính trấn thủ
của Lư Phật Tử, cũng có thể là quân được Lư Phật Tử phái đi chặn giặc
xâm lược. Nếu ở trường hợp thứ hai, chứng tỏ Lư Phật Tử có ra lệnh chiến
đấu, khi đă thất bại mới đầu hàng. Trường hợp này, đỡ ô nhục hơn.
(36) Toàn Thư, tập 1, sđd., tr. 256 (NK., q. IV, 18a).
(37) Toàn Thư, tập
1, sđd., tr. 259 (NK., q. IV, 20b).
TXA.