SUY NGHĨ
VỀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ
TRONG
LỊCH SỬ CỔ ĐẠI
NƯỚC TA
MAI HẮC ĐẾ, NGƯỜI ANH HÙNG KHỞI NGHĨA
(772),
VỊ VUA BỊ MANG TIẾNG LÀ “TƯỚNG
GIẶC”
SUỐT MẤY TRĂM NĂM TRONG SỬ SÁCH
1
Sau triều đại độc lập, tự chủ do Lư Bôn
và Lư Phật Tử, đặc biệt là do Triệu Quang Phục, khởi nghĩa, kháng chiến
thành công và xây dựng nên trong quăng thời gian 61 năm (541 – 602),
Giao Châu ta lại bị bọn phong kiến Trung Hoa tái xâm lược và chiếm đóng.
Ở phía nam Trung Hoa, hết triều Lương
(502 – 556) lại đến triều Trần (557 – 589). Sau đó, nhà Tuỳ thống nhất
cả Hoa nam lẫn Hoa bắc với một đế chế như Tần, Hán, Tấn thuở trước.
Nhưng nhà Tuỳ chỉ tồn tại trong 37 năm (581 – 618).
Lư Uyên cướp ngôi nhà Tuỳ, vào năm 618,
lập nên nhà Đường (618 – 907). Trong thời sơ Đường (618 – 713), triều
chính của triều đại này bị lũng đoạn, khuynh đảo bởi hai thái hậu, Vơ
thị (Vũ Tắc Thiên) và Vi thị. Bước sang thời trung Đường (713 – 823),
triều đ́nh Hán tộc này lại bị nổ ra cuộc biến động do người Phiên tộc An
Lộc Sơn (755) chỉ huy tấn công. Lại tiếp đến là những cuộc nổi dậy, khởi
nghĩa ở các vùng biên, phiên trấn của các tộc người bị nhà Đường đô hộ (Thổ
Phồn, Hồi Hột), trong suốt 60 năm, khiến có lúc vua Đường với cung tần
mĩ nữ phải bỏ kinh đô Trường An để trốn lánh ra Thiểm Châu (Hà Nam) (1).
Diễn biến ở Trung Hoa tất nhiên có tác
động rơ rệt vào nước ta.
Thời đế chế Tùy, sau khi củng cố quyền
lực tại chính quốc, Lưu Phương được lệnh kéo quân sang Giao Châu ta. Chỉ
một trận đánh, y đă quy phục được tên vua hèn nhát Lư Phật Tử, bắt y
giải giao về Phương Bắc. Tiếp đến, Lưu Phương được vua Tuỳ phong chức
hành quân tổng quản đạo Hoan Châu, kéo quân đi đánh Lâm Ấp, cướp phá tan
hoang. Nhưng tên giặc Lưu Phương cũng chết v́ bệnh dọc đường về.
Khi nhà Đường cướp ngôi nhà Tuỳ xong,
đến đời Cao Tông, vào năm Kỉ măo (679), nước ta bị đổi thành An Nam đô
hộ phủ, nước phải chia ra 12 châu!
Đến năm Đinh hợi (687), người Lư (một
nhân tộc thiểu số) ở nước ta khởi nghĩa với hai người lănh đạo là Lư Tự
Tiên, Đinh Kiến, giết được tên thực dân đầu năo đô hộ phủ là Diên Hựu.
Lư Tự Tiên và Đinh Kiến, người trước kẻ sau, đều bị hi sinh.
Nội t́nh Trung Hoa thời sơ Đường, trung
Đường diễn ra những chính biến, biến động, nhất là các cuộc nổi dậy,
khởi nghĩa ở phía tây bắc như thế, nên nhân thời cơ đó, Mai Thúc Loan đă
khởi nghĩa, liên minh với các nước láng giềng để giành lại nền độc lập,
tự chủ cho dân tộc.
2
Tại sao Mai Hắc đế bị mang tiếng
là “tướng giặc” trong sử sách?
Không phải nói đến sách sử của đối
phương, những sử gia Trung Hoa, vốn xem Mai Thúc Loan (Mai Hắc đế) là
tướng giặc. Điều đó chẳng có ǵ lạ! Về sau này, trong lịch sử cận
đại, những sách sử của giặc Pháp xâm lược, các học giả thực dân cũng gọi
những nghĩa sĩ, vị quan yêu nước, b́nh Tây sát tả, những ai kháng
chiến chống lại ách “bảo hộ” của chúng, đều là giặc, là nghịch tặc, bè
lũ phản loạn.
Chúng ta đă biết, ngay Trưng Trắc –
Trưng Nhị, hai vị anh hùng chống ngoại xâm, thuộc vào bậc nhất trong
giới phụ nữ từ xưa đến nay, của lịch sử nước ta và của lịch sử thế giới,
cũng đă bị sử gia Trung Hoa (tác giả bộ sách Hậu Hán thư, ở mục
Mă Viện truyện (2)) gọi là giặc. Mặc dù không hoàn toàn là
người Hán – Hoa, Lê Tắc, tác giả An Nam chí lược, vẫn ghi rơ theo quan
điểm của y rằng: Trưng Trắc, Triệu Thị Trinh, Lư Bí, Dương Thanh đều là
“những kẻ phản nghịch”, c̣n Khúc Thừa Dụ, Dương Đ́nh Nghệ,
Ngô Quyền đều là “những kẻ tiếm thiết” (3).
Điều đáng nói là ngay chính Đại Việt
sử kí toàn thư (4), bộ sử lớn của nước ta, được xem là tư liệu gốc
của ngành khoa học lịch sử từ xưa đến nay, lại viết rơ Mai Thúc Loan là
tướng giặc. Và ghi chép về vị anh hùng dân tộc này, Toàn thư cũng chỉ
viết vài ba ḍng:
Toàn thư
ghi: “Nhâm tuất, [722], (Đường,
Huyền Tông, Long Cơ, Khai Nguyên năm thứ 10). Tướng giặc là Mai
Thúc Loan chiếm giữ châu, xưng là Hắc đế, bên ngoài liên kết với người
Lâm Ấp, Chân Lạp, số quân nói là 30 vạn. Vua Đường sai nội thị tả giám
môn vệ tướng quân là Dương Tư Húc và Đô hộ là Nguyên Sở Khách đánh dẹp
yên được” (5).
Chúng ta biết rằng, Đại Việt sử kí
toàn thư là bộ sử tập đại thành của những bộ sử trước đó, đặc biệt
là Đại Việt sử kí (1272) của Lê Văn Hưu (1230 – 1322). Cho đến
Toàn thư được khắc in vào năm Chính Hoà [1697] (nhà Hậu Lê, thời trung
hưng), bộ sử đă được các sử gia Quốc sử viện, Sử quán khảo đính, chỉnh
lí, bổ sung một cách hết sức cẩn trọng. Nhưng đến bản hoàn chỉnh, khắc
in, công bố này, những ḍng sử viết về Mai Thúc Loan vẫn thế. Tất nhiên
bản dịch hiện nay không thể tuỳ tiện sửa đổi, mà phải tuân thủ tối đa,
tuyệt đối nguyên tắc phiên dịch thư tịch cổ, nhất là các bộ sách được
thẩm định là tư liệu gốc.
Như vậy, ít ra là cho đến năm 1697, Mai
Thúc Loan (Mai Hắc đế) vẫn bị xem là “tướng giặc” ư? Nỗi oan khuất ấy
kéo dài đến vậy sao?
Thật ra, mặc dù Toàn thư, bản
Chính Hoà (1697) vẫn vậy, nhưng từ 1554, sử gia Lê Tung đă minh oan và
minh định cho vị anh hùng Hắc đế này trong bài “Việt giám thông khảo
tổng luận”. Bài viết này được trang trọng đặt ở phần mở đầu của bộ
sử Toàn thư. Từ bấy đến nay, ngay ở bản dịch của Viện Sử học (4), bài
Tổng luận của Lê Tung vẫn c̣n được đặt ở vị trí trang trọng đó.
Như vậy, phần nội dung trong Toàn thư,
phần ngoại kỉ, quyển V, tờ 4b, không có ǵ thay đổi. Sự thay đổi về quan
điểm nhận định chỉ có ở bài Tổng luận (1554) của Lê Tung. Nói
cách khác, Mai Thúc Loan vừa là anh hùng yêu nước, chống nhà Đường (Trung
Hoa) xâm lược, vừa là tướng giặc, ở hai phần (tổng luận, ngoại kỉ) ngay
trong một bộ sử.
Lê Tung đă b́nh luận như thế nào về Mai
Hắc đế? Ông viết: “Mai Hắc đế, nổi lên từ Châu Hoan, căm giận chính
lệnh tàn ngược của Sở Khách, cất quân tiến đánh, phía nam giữ đất Hải
Lĩnh, phía bắc chống lại nhà Đường, có thể gọi là bậc vua hào kiệt. Tiếc
rằng không tài chống giặc, ḷng người ít theo, nên không thể át nổi cái
loạn Dương Tư Húc” (6).
Rơ ràng lập trường, quan điểm địch – ta
ở đoạn trên trong bài Tổng luận của Lê Tung là đă rất minh bạch,
đúng đắn (mặc dù Lê Tung c̣n lẫn lộn ở những trang, đoạn viết về các
nhân vật, triều đại khác như về Triệu Đà và nhà Triệu – Hán của y, về
Nhâm Diên, Tích Quang, Sĩ Nhiếp, vốn là những tên hiệu uư, thái thú
Trung Hoa thuộc bọn phong kiến thực dân cổ đại!).
Thực trạng của sử sách là như thế và
cũng không có ǵ lạ.
Nhưng thử t́m hiểu nguyên nhân v́ sao
như thế?
Thứ nhất là,
các sử gia nước ta như Lê Văn Hưu, Phan
Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên, Vũ Quỳnh, Phạm
Công Trứ, Lê Hy tất nhiên đă sử dụng và tham khảo các thư tịch cổ của
triều đại đối phương ở Trung Hoa. Lập trường, quan điểm giữa nước ta và
các triều đại Trung Hoa xâm lược là trái ngược nhau 1800, như nước với
lửa, một trời một vực. Vả lại, có những trường hợp sử gia Trung Hoa viết
mơ hồ, vu khoát, mà các sử gia nước ta khảo đính, chỉnh lí chưa tốt.
Thứ hai là,
trường hợp Mai Hắc đế (Mai Thúc Loan)
là một trường hợp khá đặc biệt, cơ chừng là
do quan điểm về nhân tộc (sắc tộc) của các sử gia và bởi sự
liên minh của Mai Hắc đế với các nước như Lâm Ấp, Chân Lạp, vốn là
đất nước của các nhân tộc (Chăm, Kh’mer…) có màu da nâu đen như Mai Hắc
đế, trong sự nghiệp chung sức chống bọn phong kiến nhà Đường Trung Hoa
xâm lược, chiếm đóng. Thêm vào đó, thuở bấy giờ, ba quận Nhật Nam, Cửu
Chân, Giao Chỉ luôn bị bọn cầm quyền nước Lâm Ấp đánh phá, mưu toan xâm
chiếm để bành trướng lănh thổ Lâm Ấp ra phía bắc (7), hoặc quân Chà Và,
Côn Luân… liên tục tấn công nhằm cướp bóc tài sản, bắt người làm nô lệ (mục
tiêu nhiều cuộc chiến tranh hồi đó ở nhiều nước Âu – Á – Phi – Mỹ (*) là
như thế!).
Thật ra, Lê Tung (1554) đă thanh minh và
đă ca ngợi công đức cứu nước, cứu dân, chống giặc Tàu ngoại xâm của
Vua đen họ Mai. Rất rơ ràng là Mai Thúc Loan xưng đế. Dưới
đế c̣n có vương, bá, hầu. Trên đế là không c̣n ai nữa. Mai
Hắc đế không chịu phụ thuộc vào vương quyền nước nào. Lâm Ấp, Chân Lạp
chỉ là đồng minh nhỏ, nhỏ so với Giao Châu (Việt Nam). Ông cũng
không hề mặc cảm, mà lại tự hào về màu da đen của ḿnh: Hắc đế là
vị hoàng đế da đen.
Tuy vậy, Lê Tung trong Toàn thư hé lộ
cho hậu thế thấy, rơ ràng ngoài nhận định “không tài chống giặc”
hơi oan uổng, là có sự ḱ thị (“ḷng người ít theo”) chăng? Phải
chăng v́ ḷng người ít theo nên khó khăn trong việc chống giặc Đường
Trung Hoa?
3
Mai Hắc đế trong sử sách về sau
Cương mục (8)
ghi chép và khảo đính: “Năm Nhâm
tuất (722). (Đường, Huyền Tông, năm Khai Nguyên thứ 10). Tháng 7, mùa
thu. Ở Hoan Châu, Mai Thúc Loan giữ lấy châu, tự xưng đế. Nhà Đường, sai
bọn nội thị Dương Tư Húc sang đánh, phá được. Theo Đường thư, khoảng năm
Khai Nguyên (713 – 741), An Nam (9) có Mai Thúc Loan làm phản, tự xưng
là Hắc đế, chiêu tập quân 32 châu, ngoài liên kết với các nước Lâm Ấp,
Chân Lạp và Kim Lân, giữ vùng biển nam, quân số có đến 40 vạn. Tư Húc
xin đi đánh, chiêu mộ hơn mười vạn quân, cùng với Quang (10) Sở Khách
tiến theo đường cũ của Mă Viện, nhân lúc bất ư, sập đến đánh. Thúc Loan
Hoang mang nao núng, không kịp mưu tính cách đối phó, bị thua to. Tư Húc
mới chôn những xác chết chung vào một nơi, đắp thành cái g̣ cao (Ḱnh
quán), để ghi chiến công của ḿnh, rồi rút quân về” (11).
Lời cẩn án của Cương mục:
“Trộm nghĩ Thúc Loan chẳng qua giữ được một châu, thế lực cũng nhỏ. […].
Sử cũ cũng chép Thúc Loan ngoài liên kết với các nước Lâm Ấp, Chân Lạp,
số quân có 30 vạn, có lẽ cũng cứ dựa qua Đường thư, chứ chưa xét đến sự
thực” (12).
Nhưng trong thực tế khảo đính, đó chỉ là
lời cẩn án, c̣n phải khảo cứu thêm.
Có một chi tiết Cương mục chua
rất rơ: “Mai Thúc Loan: Người Mai Phụ, huyện Thiên Lộc, Hoan Châu,
bây giờ thuộc huyện Can Lộc, phủ Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Thúc Loan người
đen lắm, nên người Hoan Châu gọi là Hắc đế. Nay c̣n có vết thành cũ ở
núi Vệ thuộc huyện Nam
Đường và có đền thờ ở Hương Lăm thuộc huyện ấy. Đền này được liệt vào
hàng đền thờ đế vương các triều đại” (13).
Chính câu cuối của đoạn trích dẫn trên
là cả một sự thẩm định cho thuở bấy giờ và cho muôn thuở: “Đền này
được liệt vào hàng đền thờ đế vương các triều đại”.
Đại Nam nhất thống chí
do Quốc sử quán triều Nguyễn ghi nhận:
“Đền Mai Hắc đế: ở địa phận xă Hương Lăm, huyện Nam Đường. Thần họ Mai,
tên Thúc Loan, mặt sắt, ḿnh đen, h́nh dáng hùng vĩ, nhiều người tin
tưởng vui theo. Bấy giờ nước ta thuộc nhà Đường, khoảng niên hiệu Khai
Nguyên, Quang Sở Khách làm đô hộ An Nam, chính lệnh tham bạo, dân không
chịu nổi, nhiều người phải trốn vào rừng làm việc trộm cướp. Thúc Loan
bèn dấy quân ở Hoan Châu, những người trộm cướp ở các quận đều hàng phục,
bèn liên kết với các nước Lâm Ấp và Chân Lạp, số quân có đến 30
vạn, chiếm cứ Giao Châu mà xưng đế, đóng ở thành Vạn Yên (Sa Nam). Nhà
Đường sai nội thị là Dương Tư Húc đem quân sang đánh, vua bèn rút quân
đến đóng ở núi Hùng Sơn. Khi mất, táng ở phía nam núi đất, người địa
phương lập đền thờ” (14).
Đó là những lời và lẽ xác đáng, trang
trọng, Quốc sử quán triều Nguyễn viết về Hắc hoàng đế Mai Thúc Loan, một
vị anh hùng dân tộc, khi chết đă được nhân dân phong Thần.
Từ đó, mặc dù sử gia này, học giả khác
có những hạn chế nhất định, nhưng cả Trần Trọng Kim với Việt Nam sử
lược (1921), lẫn Đào Duy Anh với Lịch sử Việt Nam (1955,
1957) cũng như các nhà sử học trong Nam ngoài Bắc (Phan Khoang,
PGS. Nguyễn Cảnh Minh…) đều đồng ḷng khẳng định những đóng góp cho sự
nghiệp chống bọn phong kiến xâm lược Trung Hoa của Vua đen Mai
Thúc Loan, đều đồng thanh ca ngợi công đức của ông và quân dân do ông
lănh đạo khởi nghĩa thuở đó.
TP. HCM., viết xong
lúc 15 giờ 37 phút,
ngày 10. 07. HB4 (23
.05 G. thân HB4).
TRẦN XUÂN AN
Cước chú của bài Mai
Hắc đế, người anh hùng…:
(1) Xem: Phan Khoang,
Trung Quốc sử lược, ấn quán Hồng Phát, Chợ Lớn, 1957.
(2) Xem: Đào Duy Anh,
Lịch sử Việt Nam, Nxb. Văn hoá – Thông tin tái bản, 2002, tr. 98.
(3) Lê Tắc, An Nam chí
lược (thuộc Tứ khố toàn thư, Trung Hoa), bản dịch của Uỷ ban Phiên dịch
sử liệu Viện Đại học Huế (GS. Trần Kinh Hoà cố vấn), Viện Đại học Huế xb.,
1961; Nxb. Thuận Hoá, TT. Văn hoá – Ngôn ngữ Đông Tây tái bản, 2002, tr.
226, 276.
(4) Đại Việt sử kí toàn
thư (gọi tắt là Toàn thư), bản in nội các quan bản (1697), bản dịch (3
tập), tập 1, Nxb. Văn hoá – Thông tin, 2003.
(5) Toàn thư, sđd., tập
1, tr. 269 (NK. [ngoại kỉ], q. [quyển] V, [tờ] 4b). TXA. iđ..
(6) Toàn thư, sđd., tập
1, tr. 153 (TL. [tổng luận], [tờ] 6b). TXA. iđ..
(7) Trong bài trước tôi
đă viết về sự thể này: Đây là bi kịch chua xót nhất trong quy luật về sự
tồn sinh của mọi sinh vật, nhất là sinh vật cấp cao là động-vật-người!
Xin khẳng định thêm: Tôi chỉ lên án bọn cầm quyền Lâm Ấp. Bao giờ tôi
cũng nghĩ nhân dân Lâm Ấp (và nhân dân các nước nói chung) vốn là nạn
nhân của bọn cầm quyền ấy trong các cuộc chiến tranh xâm lấn.
(*) Vấn đề đă viết ở
cước chú (7) của bài này, xin viết rơ hơn để hiểu hết bi kịch chua xót
này của nhân loại và để tránh những ngộ nhận, những áp lực: Đó là tội ác
và bi kịch của nhân loại ở châu Mỹ, châu Âu, châu Úc và cả ở châu Á.
Châu Mỹ của dân tộc nào? Ai xâm lược châu Mỹ và tiệu diệt người “da đỏ”
bản xứ? Châu Úc (châu Đại Dương) của dân tộc nào? Ai xâm lược và tiêu
diệt thổ dân châu Úc? V.v…
(8) Khâm định Việt sử
thông giám cương mục (1884) (gọi tắt là Cương mục), tiền biên và chính
biên, bản dịch (2 tập), tập 1, Nxb. Giáo Dục, 1998.
(9) Nhà Đường (Trung
Hoa), vào năm Kỉ măo (679), tháng tam, đổi Giao Châu thành An Nam đô hộ
phủ. Xem: Cương mục, sđd., tập 1, tr. 183 (Tb. [tiền biên], q. [quyển]
IV, [tờ] 17 – 18).
(10) Cương mục, sđd.,
tập 1, tr. 188 (Tb., IV, 22): Không phải Nguyên Sở Khách như Toàn thư
ghi – lời chua của Quốc sử quán triều Nguyễn.
(11) Cương mục, sđd.,
tập 1, tr. 187 (Tb., IV, 21). TXA. iđ..
(12) Cương mục, sđd.,
tập 1, tr. 187 – 188 (Tb., IV, 22).
(13) Cương mục, sđd.,
tập 1, tr. 188 – 189 (Tb., IV, 23).
(14) Quốc sử quán triều
Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, tập 2, bản dịch của Phạm Trọng Điềm, Đào
Duy Anh hiệu đính, Nxb. Thuận Hoá, 1992, tr. 188 – 189. TXA. iđ..