SUY NGHĨ
VỀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ
TRONG
LỊCH SỬ CỔ ĐẠI
NƯỚC TA
Phụ lục chương II:
THƠ ĐƯỜNG VIẾT VỀ GIAO CHÂU (VIỆT
NAM) (1)
THẨM THUYÊN KỲ
Nguyên quán Thẩm
Thuyên Kỳ (? – 713) là đất Trương Châu (Trung Hoa), làm quan bị biếm
trích ở châu Hoan (Nghệ – Tĩnh). Có hơn 10 bài thơ Thẩm Thuyên Kỳ viết
về Giao Châu. Sau đây là bài thơ họ Thẩm viết tặng Vô Ngại Thương Nhân,
lúc yết kiến vị sư người Việt danh tiếng này, ở chùa Sơn Tĩnh, thuộc hạt
Cửu Chân cũ (gồm cả Nhật Nam), vào năm 685, thời Vơ Tắc Thiên soán ngôi
nhà Đường ở Trung Hoa. Ngoài ra, trong cuốn An
Nam chí lược
của Lê Tắc, c̣n có 3 bài thơ khác viết về Giao Châu (nước ta) của nhà
thơ họ Thẩm này (sđd., tr. 63, 293 – 294).
Đại sĩ sinh Thiên Trúc
Phân thân hoá Nhật Nam
Nhân trung xuất phiền năo
Sơn hạ tức Già Lam
Tiểu giản hương vi sát
Ngụy phong thạch tác am
Hầu thiền thanh cốc [dục – ct.] nhũ
Khuy giảng bạch viên tham
Đằng ái vân gián bích
Hoa thê thạch hạ đàm
Tuyền hành u cung hảo
Lâm quải dục y kham
Đệ tử ai vô thức
Y vương tích vị đàm
Siêu nhiên Hổ Khê tịch
Chích thụ hạ hư lam.
Dịch nghĩa:
Đức Phật Thích Ca vốn sinh ra ở đất Ấn
Độ
Phân hoá thân sang đất Nhật Nam này
Giải thoát khỏi cảnh phiền năo trong cơi
người
Già Lam [:chùa – ct.] của Ngài làm ngay
ở dưới núi
Suối khe lấy hương làm bảo sát [: chùa,
tháp – ct.]
Núi cao lấy đá làm am thiền
Chim xanh cho con bú chầu [rúc đầu? –
ct.] khi vào thiền định
Vượn trắng dự nghe khi giảng kinh Phật
Mây leo quấn trên vách đá từng lớp đứng
Hoa ḅ trên hồ dưới chân vách đá
Suối đi quanh quất u tịch đem cho cái
thú
Rừng cây mang [phơi – ct.] áo tắm
Đệ tử đáng thương v́ không biết
Tiếc chưa hiểu phép chữa bệnh của vua
thầy thuốc
Ngồi ở Hổ Khê siêu nhiên
Một ḿnh dưới cây ngọn núi hư không.
Dịch vần:
Phật xưa sinh ở Tây Thiên
Mà nay xuất hiện ở miền Nhật Nam
Thoát ṿng đau khổ cơi phàm
Thảnh thơi dưới núi Già Lam một toà
Ngọn khe, đỉnh núi lân la
Hương là cổ sát, đá là thiền am
Chim xanh chúc, vượn trắng ḍm
Sớm mai giảng kệ, chiều hôm tham thiền
Mấy từng mây quấn, đá chen
Dây leo chân vách, hoa lên mặt đầm
Thiên nhiên sẵn thú tuyền lâm
Rừng phơi, áo giặt suối dầm nước hương
Phận hèn học kém đáng thương
Tiếc v́ chưa hiểu y vương thế nào
Hổ Khê một bữa may sao
Đầu non đổ xuống cây cao một ḿnh.
(Thích Mật thể dịch
trong cuốn Việt
Nam Phật giáo sử).
TRƯƠNG TỊCH
Trương Tịch (768 –
830), người đất Ô Giang, tỉnh An Huy (Trung Hoa), đỗ tiến sĩ, làm quan
đến chức quốc tử tư nghiệp. “Ông đă dùng lời thơ tố cáo một số hiện
tượng đen tối trong xă hội, bài th́ châm biếm cuộc chiến tranh
chống ngoại tộc, bài th́ nói nỗi khổ của người dân phải đi đắp luỹ xây
thành, bài th́ tả nạn tô thuế” (2) . Trương Tịch đích thực là một
nhà thơ phản chiến tích cực và tiến bộ, chống chiến tranh xâm lược của
nhà Đường. Bài thơ sau đây Trương Tịch viết tặng một nhà sư trong núi ở
Nhật Nam (ở khoảng giữa Trung bộ Việt Nam (*)).
Độc hướng sơn trung lăo
Tùng môn bế lưỡng nhai
Phiên kinh thượng tiêu diệp
Bài nạp lạc đằng hoa
Thú thạch tân khai tỉnh
Xuyên lâm tự chủng trà
Thời phùng hải nam khách
Man ngữ vấn thuỳ gia?
(Toàn Đường thi, quyển 384).
Dịch nghĩa:
Trong núi một ḿnh hướng vào có ông lăo
Cửa [gỗ – ct.] thông ngăn đóng hai bên
mưa [bờ nước suối đổ – ct.]
Mở kinh trên tàu lá chuối
Phơi áo nhà tu dưới bông hoa leo
Đắp đá mới, đào lấy giếng nước
Phá rẫy tự trồng lấy trà
Gặp khi có khách bể Nam đến
Tiếng bản xứ hỏi thăm nhà ai?
Dịch vần:
Trong núi một sư già
Cửa thông khép mưa sa
Mở kinh trên lá chuối
Rũ áo dưới bông la
Xây đá mới, đào giếng
Phá rẫy tự trồng trà
Bể Nam có khách đến
Tiếng bản xứ hỏi nhà? (**)
(Thích Mật Thể dịch).
DƯƠNG CỰ NGUYÊN
Bài thơ này, Dương
Cự Nguyên (? – 800 – ?), người đất Bồ Trung, tỉnh Sơn Tây (Trung Hoa),
viết tặng pháp sư Phụng Định, lúc pháp sư sang Trung Hoa giảng kinh Phật
trong cung vua Đường.
Cố hương Nam Việt ngoại
Vạn lí bách vân phong
Kinh luân từ Thiên khứ
Hương hoa nhập hải phùng
Lộ đào thanh phạm triệt
Thần các hoá thành trùng
Tâm đáo Trường An mạch
Giao Châu hậu dạ chung.
Dịch nghĩa:
Quê nhà cơi Nam Việt ngoài Trung Quốc
Mây bạc phủ ngọn núi xa cách muôn dặm
Bao nhiêu học thức kinh luân từ giă cửa
Trời [mà ra về – ct.]
Hương hoa đem vào mặt biển [để gặp lại –
ct.]
Làn sóng biếc, bóng c̣ bay c̣n như in
dấu
Khí bổ bốc lên như mây thành mấy trùng
Ḷng nghĩ đến kinh đô Trường An
Mỗi khi có tiếng chuông chùa đêm khuya ở
Giao Châu.
Dịch vần:
Quê nhà cơi Nam Việt
Mây trắng tít mù xa
Cửa Trời vắng kinh kệ
Mặt biển nổi hương hoa
Sóng gợn c̣ in bóng
Thành mây bến mấy toà
Trường An ḷng vấn vít
Giao Châu chuông đêm tà.
(Dịch giả?)
CỔ ĐẢO
Cổ Đảo (? – ?),
người Trung Hoa, viết tiễn pháp sư Duy Giám, vào dịp vị sư này trở về
nước, sau một thời gian sang giảng kinh ở trong cung vua Đường.
Giảng kinh xuân điện lí
Hoa nhiễu ngự sàng phi
Nam hải kỉ hồi quá
Cựu sơn lâm lăo quy
Xúc phong hương tổn ấn
Lộ vũ khánh sinh y
Không thuỷ kí như bỉ
Văng lai tiêu tức hi.
Dịch vần:
Điện xuân giảng kinh luậân
Giường ngự vương mùi hoa
Bể Nam quen lối cũ
Non Việt viếng tuần già
Ấn ṃn khi gió táp (***)
Áo lấm lúc mưa sa
Ḱa ḱa trời lẫn nước
Tin tức dần dần thưa.
(Dịch giả ?).
ĐỖ PHỦ
Đỗ Phủ (712 – 776),
người huyện Củng, tỉnh Hà Nam (Trung Hoa), là nhà thơ nổi tiếng vào hạng
bậc nhất trong các tác giả của một thời ḱ văn học được gọi là Thơ
Đường. Sau đây là bài “Khách ṭng…” của họ Đỗ, tố cáo sự bóc
lột tàn ác của triều Đường, riêng về thuế khoá.
Khách ṭng Nam minh lai
Dĩ ngă tuyền khách châu
Châu trung hữu ẩn tự
Dục biện bất thành thư
Giam chi khíp tư cửu
Dĩ sĩ công gia tu
Khai thị hoá vi huyết
Ai kim trưng liễm vô!
Dịch nghĩa:
Khách từ biển Nam tới
Cho ta ḥn ngọc của người cá
Trong ḥn ngọc có nét lờ mờ
Nhưng không nhận ra được chữ
Từ lâu giấu kín trong ḥm
Để đợi khi nhà quan dùng đến
Mở ra xem đă hoá máu
Thương xót thay! Giờ đây không c̣n ǵ để
nộp thuế nữa.
Dịch vần:
Khách biển Nam đến tặng
Ngọc h́nh giọt lệ rơi
Trong ngọc ẩn nét chữ
Muốn đọc không nên lời!
Cất vào rương giấu kín
Để cần, quan thuế đ̣i
Mở ra, thấy ḥn máu
Nộp ǵ đây, trời ơi! (3)
KHƯƠNG CÔNG PHỤ
Lê Tắc, trong An
Nam chí lược, có viết về Khương Công Phụ (sống vào khoảng đời Đường
– Đức Tông [780 – 804], Đường – Thuận Tông [804]): người Việt, cháu nội
Khương Thần Dực (thứ sử Từ Châu), con của Khương Đỉnh. Nhà nghiên cứu Lă
Sĩ Bằng khẳng định Khương Công Phụ là người Ái Châu (quận Cửu Chân) và
quận Nhật Nam. Ngô Th́ Sĩ viết cụ thể hơn về nguyên quán: Khương Công
Phụ người làng Sơn Ôi, đất An Định, thuộc Ái Châu nước ta.
Khương Công Phụ đậu
tiến sĩ đời Đường – Đức Tông (780 – 804), được bổ làm hiệu thư lang nhờ
bài chế sách hay. Về sau, thăng đến chức tể tướng (tể phụ) triều Đường (gián
nghị đại phu, đồng trung thư hạ b́nh chương sự). Khương Công Phụ có tài
cao, tấu nghị minh bạch, rất được vua Đức Tông kính trọng. Khương Công
Phụ cũng cương trực nên bị hạ chức, về sau xin làm đạo sĩ. “Vua Thuận
Tông lên ngôi, cho Phụ làm thứ sử Cát Châu, nhưng chưa nhận chức th́ mất”
(Ngô Th́ Sĩ).
Nếu đánh giá nghiêm
túc về mặt chính trị, Khương Công Phụ cũng chỉ là một
ngụy quan cộng tác, phục vụ cho triều đ́nh giặc Đường ngoại xâm;
nhưng cũng phải thừa nhận họ Khương có tài trí.
Về văn nghiệp,
Toàn Đường văn, quyển 446, có chép được hai thiên của ông. Đó là 2
bài văn: “Bạch vân chiếu xuân hải”, “Đối trực ngôn cực gián
sách” (4). “Bạch vân chiếu xuân hải” dưới đây là bài văn thuộc thể
phú, nên khá gần gũi với thơ. Đó c̣n là bài phú được người Hán thời
Đường đánh giá là kiệt tác. Do vậy, tạm đặt thêm vào mục “Thơ Đường
viết về Giao Châu (Việt
Nam)”
này.
Bạch vân dung dung
Dao duệ hồ xuân hải chi trung
Phân vân tằng hán
Hiểu khiết trường không
Tế ảnh sâm si
Tạp vi minh ư nhật vực
Khinh văn lịch loạn
Phân quưnh hoảng u tiên cung
Thuỷ nhi:
Kiền môn tịch
Dương quang tích
Năi phiêu diểu dĩ ṭng long
Toại khinh doanh nhi phất thạch
Xuất cùng loan dĩ cao chử
Khoá hoành hà nhi viễn chích
Cố hải ánh vân nhi tự xuân
Vân chiếu hải nhi sinh bạch
Hoặc cảo cảo dĩ tích tố
Hoặc trầm trầm dĩ ngưng bích
Viên hư sạ khởi
Quân diễm sắc nhi đồng lưu
Thận khí sơ thâu
Dữ thanh quang nhi sạ kích
Vân tín vô tâm như thư quyển
Hải ninh hữu ư ư triều tịch?
Bỉ tắc ngưng nguyên kỉ địa
Thử trải phiếm tích lưu thiên
Ảnh xúc lăng dĩ thời động
H́nh tuỳ phong nhi lũ thiên
Nhập hồng ba nhi tịnh diệu
Đối lục thuỷ nhi tương tiên
Thời duy:
Cổ dư bàng tiêu
Trường dinh tuyết tĩnh
Phân cung khuyết ư Tam sơn
Tổng nghiên hoa ư Nhất kính
Lâm quỳnh thụ nhi chiếu hân
Phú dao đài ư oánh ánh
Điểu hiệt hàng dĩ truy phi
Ngư thung dung dĩ hàm vĩnh
Mạc bất:
Các đắc ḱ thích
Hàm duyệt hồ tính
Đăng phù sảng khải
Vọng tư vân hải
Vân tắc liên cẩm hà dĩ li phi
Hải tắc xúc mai côi chi thuư thái
Sắc mạc thượng hồ khiết bạch
Tuế hà phương ư thủ xuân
Duy xuân sắc dă gia phù tảo lệ
Duy bạch vân dă thưởng dĩ thanh tân
Khả lâm lưu ư thị nhật
Túng quan mĩ ư tư thời
Bỉ mĩ chi tử
Cố mục vô luân [: tuyệt luân – ct.]
Dương quế tiệp
Trạo thanh tần
Tâm dao dao ư cực phố
Vọng viễn viễn hồ thông tân
Vân hề! Phiến ngọc chi nhân.
Dịch vần:
Mây trắng chiếu biển xuân
Mây trắng tan hoà, toả đều trên mặt biển
xuân
Sông Ngân phơi phới
Không gian trắng ngần
H́nh ảnh chập chùng
Bao vây vầng Nhật
Vẻ lồng lớp lớp
Phân cách cung Trăng
Bắt đầu:
Cửa trời hé mở
Dương quang ngập đầy
Uyển chuyển như rồng bay
Lẹ làng lướt vào tảng đá
Từ hang cùng tuôn lên cao ngất
Vượt ngang trời bổ toả khắp nơi
Cho nên: Biển lồng mây thêm t́nh tứ
Mây chiếu biển càng nuột nà
Lúc ṿi vọi như núi tuyết
Lúc thăm thẳm như làn biếc
Bầu không hư nổi hiện
Đều vẻ đẹp cùng trôi
Khí biển thâu hồi
Hào quang tung toé
Mây vốn vô t́nh mở cuốn
Biển nào cố ư đầy vơi
Biển ngưng nguồn ḷng đất
Mây chồng chất ngập trời
Bóng theo sóng dao động
H́nh nương gió đổi dời
In sóng hồng đua sáng
Phân làn biếc khoe tươi
Khi ấy:
Mặt đảo băng tan
Băi bờ tuyết tán
Cung điện hiện Bồng Lai, Tam Đảo
Kết thuỷ mạc mặt nước gương soi
Cây quỳnh bóng gác xinh xinh
Đài dao mây lồng rực rỡ
Chim bay hàng cao hàng thấp trên không
Cá đua lội thung dung đáy nước
Thảy đều:
Thích chí muôn loài
Thoả t́nh măn tính
Lên đầu ghềnh
Trông vời mây biển
Mây đan gấm dáng phô
Biển lớp lang óng ánh
Màu nào quư hơn màu tinh trắng?
Tiết nào thú hơn tiết xuân quang?
Đẹp thay xuân sắc xinh
Đẹp thay mây trắng tinh
Buổi ấy hẹn đến ngắm tranh
Trông ra mĩ lệ hữu t́nh ngày xuân
Ḱa ai yểu điệu
Có mắt siêu quần
Buông chèo quế
Thả buồm lan
Ḷng nao nao chân trời vô hạn
Mặt chiêu chiêu [:đăm đăm – ct.] bến
mộng vô biên
Mây ôi! Người đẹp tuyệt trần (5).
(Dịch giả ?)
MỘT NHÀ THƠ GIAO CHÂU (VIỆT NAM) KHUYẾT
DANH
Lă Sĩ Bằng ghi nhận:
“Khoảng triều Ư Tông, niên hiệu Hàm Thông (860), An Nam hai lần bị
quân Nam Chiếu vây hăm, có người An Nam là mỗ
Quốc ở An Nam”. Chắc hẳn
cảnh tượng trong bài thơ là thời điểm năm 863 tại nước ta. Đây là bài
thơ được khắc in trong Toàn Đường thi, quyển 784; in lại trong cuốn
An Nam
chí lược
của Lê Tắc. Lê Tắc xác định là của B́ Nhật Hưu (7).
B́ Nhật Hưu (833 –
883), người Trung Hoa, xuất thân từ nông dân, đỗ tiến sĩ, tham gia cuộc
khởi nghĩa Hoàng Sào; thơ cũng như hành trạng là cả một quá tŕnh nói
lên nỗi khổ của nhân dân, chống bọn phong kiến thống trị nhà Đường (7):
Nam hoang bất trạch lại
Trí ngă Giao Chỉ phúc
Liên miên tam tứ niên
Trí ngă Giao Chỉ nhục
Nhu giả đấu tắc thoái
Vũ giả binh ích độc
Quân dung măn thiên hạ
Chiến tướng đa kim ngọc
Loát đắc tề dân sang
Phân vi mănh sĩ lộc
Hùng hùng Hứa Xương sư
Trung vũ quán ḱ tộc
Khứ mă vạn kị phong
Trụ vi nhất xuyên nhục
Thời hữu tàn tốt hồi
Thiên môn vạn hộ khốc
Ai thanh động lư lí
Oán khí thành sơn cốc
Thuỳ năng thính cổ (bề) thanh
Bất nhẫn khán kim thốc
Niệm thử kham lệ lưu
Du du Dĩnh xuyên lục.
Dịch vần:
Phương Nam, chẳng chọn người cai trị
Để Giao Chỉ thường bị ngả nghiêng
Kể từ ba bốn năm liền
Làm cho Giao Chỉ đắm ch́m, nhục thay
Kẻ nhu nhược thụt lùi trước trận
Người oai hùng mấy bận dùng binh
Quân nhu đầy ngập mà kinh
Mấy tay chiến tướng mặc t́nh kiếm ăn
Nạo xương tuỷ nhân dân hết sức
Để cung vào lương thực cho quân
Hứa Xương hùng hổ ra quân
Hơn người oai vũ mười phần hiên ngang
Mạnh như gió kéo sang muôn ngựa
Dừng lại thành thây chứa đầy sông
Có người sống sót về làng
Họ hàng trông thấy động ḷng khóc than
Tiếng u oán vang lan thôn dă
Khí căm hờn đầy cả núi hang
Ngọn cờ tiếng trống bẽ bàng
Ai mà nghe thấy cho đang tấm ḷng
Nghĩ mà lệ rỏ ṛng ṛng
Dĩnh Xuyên xanh biếc mấy trùng xa xôi.
(Dịch giả?).
VƯƠNG BỘT
Đằng Vương cao các lâm giang chử
Bội ngọc minh loan băi ca vũ
Hoạ đống triêu phi Nam phố vân
Châu liêm mộ quyển Tây sơn vũ
Nhàn vân đàm ảnh nhật du du
Vật hoán tinh di kỉ độ thu
Các trung đế tử kim hà tại?
Ngoại hạm trường giang không tự lưu.
Dịch vần:
Gác Đằng cao ngất băi sông thu
Ngọc muá vàng reo nay thấy đâu?
Nam phố mây mai quanh nóc vẽ
Tây sơn mưa tối, cuốn rèm châu
Đầm nước mây vờn ngày tháng trôi
Mấy phen vật đổi với sao dời
Đằng vương thuở trước giờ đâu tá?
Sông lớn ngoài hiên luống chảy hoài.
(Tương Như dịch)
Cửu nguyệt, cửu nhật Vọng Hương đài
Tha tịch, tha hương tống khách bôi
Nhân t́nh dĩ yếm Nam Trung khổ
Hồng nhạn na ṭng Bắc địa lai?
Dịch vần:
Mồng chín tháng chín: Vọng Hương đài
Cất chén quê người tiễn bước ai
Nỗi khổ Nam Trung ḷng đă chán
Nhạn hồng đất Bắc xuống chi đây?
(Khương Hữu Dụng dịch).
HÀN DŨ
Hàn Dũ (751 – 814),
người Nam Dương, tỉnh Hà Nam (Trung Hoa), can gián vua về việc rước Phật
cốt (xá lợi Phật), bị giáng chức, đày đi xa ở Triều Châu. Hàn Dũ rất
quen thuộc đối với người Việt Nam, bởi ngoài tài năng thi ca, Hàn c̣n
được vua Trần nước ta mượn họ để đặt tên cho Nguyễn Thuyên, tác giả bài
thơ đuổi cá sấu (Ngạc ngư kia hỡi mày có hay, Biển đông sông rộng là
quê mày …) – bài thơ ấy khiến vua Trần liên tưởng đến điển tích
Hàn Dũ tống ngạc ngư. Do đó Nguyễn Thuyên thường được gọi là Hàn
Thuyên.
Tuy vậy, bài “Đàn
Việt Thường” dưới đây của nhà thơ họ Hàn vẫn mang tư tưởng xâm
lược của các triều đại phong kiến Trung Hoa, trong đó có nhà
Đường. Đó là hạn chế nghiêm trọng, thực chất là thực dân phản động của
Hàn Dũ. Bài thơ được Lê Tắc, tác giả An Nam chí lược, tuyển vào
sách (10). Lê Tắc là một người Việt gốc Hoa lâu đời (hậu duệ của thứ sử
Nguyễn Phu đời Đông Tấn), đồng bọn với Trần Kiện, Trần Ích Tắc (con cháu
nhà Trần), đầu hàng quân Nguyên – Mông, nhận quan chức của quân Nguyên –
Mông cướp nước (10).
Mưa phải th́
Vật tốt tươi
Nào ta có ư ǵ với ai?
Từ thuở Thành Chu
Chăm chỉ gian lao
Mở mang bờ cơi
Lưu truyền đời sau
Ngày nay Thánh hoàng
Ngự trị bốn phương
Oai linh lừng lẫy
Ai dám khinh thường
Nhà không bỏ trống
Ruộng có người cày
Việt Thường thần phục
Bốn bề vui vầy.
HỨA HỒN
Hứa Hồn (? – 844 – ?),
người Đan Dương (Trung Hoa), đỗ tiến sĩ, làm quan giám sát ngự sử, rồi
thứ sử các nơi (11).
Hẳn là bài thơ dưới đây
theo thông lệ, không có nhan đề. Lê Tắc đặt đầu đề là: “Thơ của Hứa
Hồn làm khi lên lầu Uư Đà” [Triệu Đà] (12).
Hạng, Lưu đương măng đuổi hươu Tần
Hoàng ốc nghênh ngang chốn hải tân
Cậy sức Nhâm Ngao, từng dựng nước
Nghe lời Lục Giả, lại xưng thần.
ĐỖ THẨM NGÔN
Đỗ Thẩm Ngôn (? – ?),
tên chữ là Tất Giản, người Tương Dương (Trung Hoa).
Xin chép theo lời giới
thiệu của Phục Ông về cơ duyên tuyển chọn bài thơ dưới đây, nhan đề là
“Lữ ngụ An
Nam”,
trong phần bạt của cuốn sách An
Nam chí lược
(13). Phục
Ông “chép theo bản sao Đường thi tuyển của Lam Cách, tàng trữ nơi
Tuyển Mộng các của Trầm Lăng Thuyến, để bổ túc mục Lịch triều danh hiền
tập đề của sách An
Nam chí lược”.
Giao Chỉ khác thời tiết
Lạnh trễ lại nóng liền
Trái núi chín tháng một
Hoa đồng nở tháng giêng
Mưa dầm sinh mù tối
Sương nhẹ dậy sấm rền
Làng cũ xa muôn dặm
Tứ khách vẫn triền miên.
Trích dẫn những bài thơ trên (trong đó
có một bài phú), xin chỉ giới hạn trong phạm vi Thơ Đường, bởi lẽ
hai chữ Thơ Đường đối với người Việt Nam cũng như đối với thế
giới là tất cả tinh tuư của thơ ca Trung Hoa, mặc dù ai cũng biết thơ,
từ, phú triều Hán, và về sau là Tống, Nguyên, Minh, Thanh, không phải
không có những tác giả, tác phẩm xuất sắc. Đó là lẽ đầu tiên. Thứ đến,
trích để ngẫm nghĩ về những vết tích lịch sử nước ta, liên quan đến nước
ta, in dấu trong thơ Đường.
Về khía cạnh chủ yếu cần khảo sát là sử
học, các bài thơ trên cho ta thấy:
1.
Phật giáo đến Giao Châu (nước
ta) rất sớm, sớm hơn cả Trung Hoa.
2.
Nỗi khổ của nhân dân Giao
Châu dưới ách thống trị thực dân phong kiến nhà Đường (Trung Hoa).
3.
Các nhà thơ Thơ Đường
vốn được nhiều người Việt yêu mến không phải không có những hạn chế
nghiêm trọng (tư tưởng bá quyền, xâm lược dưới chiêu bài lừa ḿnh dối
người một cách trịch thượng, hoặc trắng trợn hoặc ngấm ngầm). Phải chăng
đó là ḷng yêu mến “lấy chín bỏ làm mười” với ḷng khoan thứ? Điều này
khiến ta liên tưởng đến những nhà văn, thi sĩ Pháp, Nhật, Mỹ, và cả
những người cầm bút văn chương thuộc bá quyền Trung Quốc (1979) sau này.
Tất nhiên, trừ những tên thực dân gian ác như nhà văn Henry
Rivière (Lư Ba Lợi).
TP. HCM., 16 giờ 16
ngày 31. 07. HB4
(rằm 06. G. thân
HB4).
TRẦN XUÂN AN
biên soạn
Cước chú
của phần Phụ lục chương II:
(1) Những bài thơ Đường trên đây, chép lại theo: GS. Nguyễn
Đăng Thục, Lịch sử tư tưởng Việt
Nam (6 tập), tập 2, Nxb.
TP. HCM. tái bản, 1992, tr. 158 – 194; Nhiều tác giả, Thơ Đường, 2 tập,
bản in lần thứ hai, Nxb. Văn Học, 1987; Lê Tắc, An Nam chí lược (thuộc
Tứ khố toàn thư, Trung Hoa), bản dịch của Uỷ ban Phiên dịch sử liệu Viện
Đại học Huế (GS. Trần Kinh Hoà cố vấn), Viện Đại học Huế xb., 1961; Nxb.
Thuận Hoá, TT. Văn hoá – Ngôn ngữ Đông Tây tái bản, 2002 (xem thêm mục
“Thơ đề vịnh của danh hiền các triều đại”, tr. 291 – 298). Ngoài ra, có
tham khảo thêm: Trần Trọng San (biên dịch), Kim Thánh Thán phê b́nh thơ
Đường, Tủ sách ĐH. Tổng hợp TP. HCM., 1990.
(2) Nhiều tác giả, Thơ Đường, tập 1, bản in lần thứ hai, Nxb.
Văn Học, 1987, tr. 331.
(*) Nhật
Nam bao gồm hầu hết các
vùng đất thuộc Ngũ Quảng, gồm Quảng B́nh, Quảng Trị, Quảng Đức [:Thừa
Thiên], Quảng Nam; chỉ trừ Quảng Ngăi (?). Theo Đào Duy Anh, Lịch sử
Việt Nam, Nxb. Văn hoá – Thông tin tái bản, 2002, tr. 122: huyện Tượng
Lâm của Khu Liên kéo dài đến đèo Đại Lănh (Đèo Cả, núi Đá Bia [Thạch
Bi]), vốn là ranh giới của nước Lâm Ấp và nước Phù Nam. Xin lưu ư: Quốc
sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, tập 2, bản dịch Phạm Trọng
Điềm, Đào Duy Anh hiệu đính, Nxb. Thuận Hoá, 1992, tr. 347: Ở tỉnh Quảng
Nam cũng có núi Phù Nam (huyện Hoà Vang). Ngoài ra, hầu như người Quảng
Nam nào cũng biết, ở Quảng Nam, tại huyện Đại Lộc, cũng có một xă tên là
Đại Lănh (nơi khai quật di chỉ khảo cổ). Xin nêu vấn đề như thế.
(**) Nguyên văn bản dịch trong cuốn Lịch sử tư tưởng Việt
Nam, sđd., tr.
162: “Tiếng Mán hỏi thăm nhà?”. Khảo chứng, đối chiếu với tư liệu cổ: Lê
Tắc, An Nam chí lược, sđd., tr. 297: nguyên văn bản dịch là, “Trăm tiếng
thổ, hỏi nhà?”. Trừ câu cuối, bản dịch vần bài thơ trên y hệt bản dịch
vần trong cuốn An Nam chí lược, sđd., nhưng không đề tên dịch giả, khiến
người đọc hiểu là bản dịch vần ấy là của UB. Phiên dịch sử liệu Viện ĐH.
Huế. Không rơ ai mới là dịch giả! Có lẽ do sơ suất của GS. Nguyễn Đăng
Thục.
(***) Bản khắc ṃn gió táp, Áo mặc lấm mưa sa [ct.].
(3) Bản phiên âm và dịch nghĩa bài “Khách ṭng…” này, trích
từ cuốn Thơ Đường, tập 2, sđd., tr. 268 – 269. Bản dịch vần trên, có
tham khảo từ bản dịch thơ trong sđd., tr. 269.
Đỗ Phủ lại có hai câu thơ viết về trụ đồng vốn do tên thực
dân cổ đại Mă Viện (Phục Ba tướng quân) dựng:
Vũ lai đồng trụ bắc
Ư tẩy Phục Ba quân
(Mưa phía bắc đồng
trụ
Muốn rửa quân Phục
Ba).
Trích từ: Lê Tắc, An Nam chí lược, sđd., tr. 65.
(4) Dẫn theo GS. Nguyễn Đăng Thục, sđd., tr. 166, 168 – 169,
190: Lê Tắc, An Nam chí lược, bản dịch của Uỷ ban Phiên dịch sử liệu
Viện Đại học Huế (GS. Trần Kinh Hoà cố vấn), Đại học Huế xb., 1961; Ngô
Th́ Sĩ, Việt sử tiêu án, bản dịch của Hội Việt Nam nghiên cứu – liên lạc
văn hoá Á châu, Văn hoá Á châu xb., Sài G̣n, 1960; Lă Sĩ Bằng, Bắc thuộc
thời ḱ đích Việt Nam, Đông nam Á nghiên cứu chuyên san, tập 3, Đại học
Hương Cảng, 1964.
Cũng theo GS. Nguyễn Đăng Thục, sđd., tr. 165 – 166, sử gia
Lê Tắc ghi nhận: thi sĩ người Việt Nam c̣n có Liêu Hữu Phương mà Liễu Tử
Hậu hết lời ca ngợi, xem là hiếm quư. Học giả hiện đại (thế kỉ XX) – Lă
Sĩ Bằng – về sau, nhận định rằng thi sĩ và nhân tài Việt
Nam bấy giờ không hiếm.
Ông lập luận: “thời Đường văn nhân hay xướng hoạ, nhận được thơ tặng mỗi
lần đều có thơ tặng lại, đủ biết rằng người Việt Nam thời bấy giờ làm
thơ nhiều”; đồng thời Lă Sĩ Bằng tỏ ư “tiếc rằng, những tác phẩm đều
thất truyền, không lấy đâu để khảo cứu t́m ra được”.
Tôi nhận thấy: nhà Đường với chính sách trấn áp kháng chiến
của dân tộc Việt, đă đặt “châu hiệu” nước ta là “An Nam” (với nghĩa
Phương Nam ổn
định [trong nô lệ]!), th́ để phát triển văn chương Việt, thật khó, vô
vàn khó, đối với thi sĩ, văn sĩ Việt. Đó là chưa kể đến sự thể chữ Hán
vốn là ngoại ngữ, chứ không phải là tiếng mẹ đẻ của người Việt.
(5) Xem thêm bản dịch nghĩa trong cuốn sách của GS. Nguyễn
Đăng Thục, sđd., tr. 175 – 178.
(6) Mỗ: trống, trổng, tức là khuyết danh. Ở trường hợp này
không phải do kiêng huư, mà v́ lí do nào đó (có thể bởi tác giả chống
triều đ́nh nhà Đường ngoại xâm, hoặc tác giả tự giấu tên chẳng hạn), nên
sách sưu tập không ghi tên tác giả.
(7) Lê Tắc, An Nam chí lược, sđd., tr. 293 – 294. Nguyên văn
bản phiên âm, bản dịch vần bài thơ được cho là khuyết danh tác giả trên,
trích từ: GS. Nguyễn Đăng Thục, sđd., tr. 328 – 330. Xem thêm về tiểu sử
B́ Nhật Hưu: Thơ Đường, tập 1, sđd., tr. 334 – 335.
(8) Lê Tắc, An Nam chí lược, sđd., tr. 213: “Vương Phúc Trĩ [âm
khác: Trị – ct.], cha của Vương Bột, thời Cao Tông (650 – 683), làm Ung
Châu tư hộ tham quân. V́ việc của Vương Bột, bị đổi qua làm Giao Chỉ
lệnh. Vương Bột qua Giao Chỉ thăm cha, bị đắm thuyền chết”.
(9) Nhiều tác giả, Thơ Đường, tập 1, sđd., tr. 25 – 27, 325:
bản phiên âm, bản dịch thơ và vài ḍng về tiểu sử được trích từ sđd..
(10) Lê Tắc, An Nam chí lược, sđd., tr. 296: Các bản dịch vần
các bài thơ sau đây, được trích từ bản dịch sđd..
(11) Nhiều tác giả, Thơ Đường, tập 1, sđd., tr. 335.
(12) Lê Tắc, An Nam chí lược, sđd., tr. 296.
(13) Lê Tắc, An Nam chí lược, sđd., tr. 351 – 352.
TXA.