SUY NGHĨ
VỀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ
TRONG
LỊCH SỬ CỔ ĐẠI
NƯỚC TA
những bài nghiên cứu gửi đăng báo
MƯỜI SÁU THÁNG SÁU
HAI KHÔNG KHÔNG TƯ
(HAI MƯƠI CHÍN THÁNG
TƯ GIÁP THÂN
NĂM THỨ TƯ CÔNG
NGUYÊN HOÀ B̀NH)
Xin tạ ơn ngọn bút,
biểu tượng của sự công chính và liêm
khiết trí tuệ.
Xin yêu thương, trân trọng và bảo vệ
từng ḍng chữ mồ hôi nước mắt
của chất xám và trái tim.
TXA.
LỜI THƯA ĐẦU SÁCH
1
Lịch sử là quá khứ được ghi chép lại với
tiêu chí trước tiên và cuối cùng là tính trung thực nghiêm ngặt với
những chất liệu xác thực nhất. Sử học không phải là lĩnh vực sáng tác
văn nghệ. Tuy nhiên, các nhà văn, nhà thơ cũng như các nhà sáng tạo nghệ
thuật khác luôn có cảm hứng sáng tác về lịch sử, đă tạo nên nhiều tác
phẩm về đề tài lịch sử. Nói như thế, không có ǵ mâu thuẫn. Diễn đạt
cách khác: tính trung thực của các tác phẩm văn nghệ không thể sai lệch
với tính trung thực của sử học, bởi lẽ, những chi tiết hư cấu ở tác phẩm
văn nghệ thường được người đọc đề nghị, yêu cầu phải xuất phát từ sự
nhận thức chính xác và thấu đáo lịch sử đồng thời cũng xuất phát từ trực
giác nghệ sĩ (trực giác này cần được chứng minh bằng quá tŕnh tổng hợp
– phân tích – tổng hợp các cứ liệu sử, các khái quát sử học).
Mặt khác, một đặc tính của văn chương
Việt Nam là gắn bó chặt chẽ, mật thiết với sử học. Văn sử bất phân
là ưu điểm độc đáo nhưng cũng là một hạn chế nghiêm trọng. Hạn chế
của t́nh trạng văn sử bất phân ở nếp tư duy, ở sách vở cổ đă tạo ra
nhiều sai lầm, ngộ nhận đáng tiếc; tất nhiên cần phải khắc phục. Ưu điểm
của văn sử bất phân là giúp mọi thế hệ người sáng tác, người đọc gắn bó
máu thịt với lịch sử nước ḿnh; tất nhiên cần được phát huy.
Vả lại, dù muốn dù không, dù được ghi
chép hay chỉ c̣n trong kí ức riêng tư, mỗi người đều có tiểu sử, và ai
cũng ít nhiều đều tự chiêm nghiệm tiểu sử ḿnh. Mỗi ḍng họ cũng có tộc
sử, với mục đích yêu cầu như thế. Một dân tộc như dân tộc Việt Nam, với
lịch sử bốn ngh́n năm thăng trầm, cũng vậy, luôn cần được mỗi người Việt
chiêm nghiệm. Đó là điều hết sức giản dị, giản dị đến tầm thường; tầm
thường nhưng không nhắc đến, lại là thiếu sót.
Hiểu như vậy nên tôi học tập, nghiên cứu
sử.
2
Đây lại là một mệnh đề không có ǵ lạ:
“Lịch sử đang diễn ra”.
Đúng vậy, lịch sử là chuyện của ngh́n
năm trước, trăm năm trước, ít ra cũng của dăm ba năm về trước, nhưng âm
hưởng của nó, một cách vừa hữu thức, vừa vô thức, hiện diện trong đời
sống hiện tại, và dĩ nhiên, ngay cả trong tương lai. Âm hưởng, đó
là một từ mơ hồ. Thực ra, đó là một số quy luật có tính lịch sử chẳng
hạn như quy luật h́nh thành, phát triển dân tộc, đất nước; quy luật địa
– chính trị ở khu vực Đông Nam Á, châu Á – Thái B́nh Dương; quy luật tồn
tại và phát triển trước các nguy cơ ngoại xâm; quy luật về ma lực quyền
bính v.v… Thực ra, đó c̣n là những ǵ đă trở thành tâm thức sâu thẳm
nhất, thuộc về phương diện t́nh cảm, tâm lí, bản lĩnh dân tộc, chẳng hạn
như yêu quê hương, đất nước đến lạ lùng, nhẫn nại, kiên tâm đến kinh
ngạc, quật khởi, anh hùng đến phi thường v.v…
“Lịch sử đang diễn ra”
c̣n là một cách nói tu từ, nhất là ở từ
lịch sử. Giây phút hiện tại này, sự
việc ngay trước mắt này, mẩu tin nóng hổi trên nhật báo mới lên
khuôn này… nếu hiểu một cách sâu xa (không có ǵ đă tồn tại mà
sẽ mất đi, v́ nó sẽ được tồn tại ở một dạng khác), th́ tất cả đều là
lịch sử. Có thể nói, đây là mạch nước ngầm lịch sử.
Nhưng lịch sử chúng ta đang
nghiên cứu lại chỉ là những kí ức dân gian (thần thoại, truyền thuyết…),
những di tích tín ngưỡng (đền, miếu, thần tích, thần phả…), những ghi
chép quá sơ lược trong thư tịch cổ (của sử gia Trung Hoa, của sử gia
nước ta…). Dẫu vậy, đây chính là ḍng nước nổi lịch sử.
Hai khía cạnh trên đây (mạch nước
ngầm lịch sử và ḍng nước nổi lịch sử) cũng là hai b́nh diện
của tiến tŕnh lịch sử.
Đặc biệt, khác với lịch sử trung đại,
cận – hiện đại vốn có những tư liệu gốc xác thực, là trong thời ḱ
đă quá xa xưa (lịch sử cổ đại), hai b́nh diện ấy không thể không có một
phần lung linh, mơ hồ, thậm chí là lờ mờ của giả thuyết,
ức đoán. Những giả thuyết, ức đoán này sẽ có giá trị cao nếu nó xuất
phát từ thứ trực giác khoa học nói trên (trực giác từ quá tŕnh tổng
hợp – phân tích – tổng hợp).
Từ mệnh đề “lịch sử đang diễn ra”,
phải chăng chúng ta cũng có thể suy luận thêm, ở bên ngoài nội hàm của
mệnh đề ấy: chính hiện tại khiến chúng ta nhận thức lịch sử không hoàn
toàn giống hệt như các thế hệ trước, ở các thời đại đă xa? Rơ ràng sử
gia thời nhà Trần, như Lê Văn Hưu, suy nghĩ, nhận định khác với sử gia
thời Hậu Lê trung hưng, như Ngô Sĩ Liên, và nói chung, Quốc sử viện
triều Trần, Sử quán triều Hậu Lê suy nghĩ, nhận định có phần khác với
Quốc sử quán triều Nguyễn, mặc dù lượng thông tin khách quan về cơ bản
là y hệt nhau trong các bộ sử. Không c̣n nghi ngờ ǵ nữa, không khí
mỗi thời đại, hiện thực của mỗi đương thời, đă chi phối ít
nhiều đến nhận thức sử học, nhất là cảm quan lịch sử.
Tuy nhiên, chỉ với quan điểm lịch sử
– cụ thể, mọi nhận định mới thật khoa học, công bằng.
Viết sử về những thời ḱ kháng chiến
chống phong kiến Trung Hoa xâm lược, vẫn cứ phải nể nang Trung Hoa, chỉ
dám gọi Trung Hoa là Phương Bắc! Cũng như về sau này, viết sử về
thực dân Pháp, phát xít Nhật, đế quốc Mỹ xâm lược, cũng nể nang v́ sợ
thù oán và để ḥng mong nhờ cậy, nương tựa! Viết sử về bộ phận “tả đạo”
Thiên Chúa giáo cũng rụt rè, sợ nuôi thù chứa oán. Thành thử, sử cứ lép
dần, lép dần, mất cả khí thế và mất cả tính chân thực, khoa học.
Dĩ nhiên chúng ta phải công minh nhưng
đồng thời cũng phải tế nhị, khoan thứ. Nhưng không thể tế nhị, khoan thứ
đến mức ta không có một bộ sử nào chân thực, khoa học và đầy khí thế
chăng!
Và thực ra, những nhà văn viết về đề tài
lịch sử, những nhà nghiên cứu sử học chân chính bao giờ cũng được các
nhà trí thức, các phân số nhân dân chân chính ở các nước tôn trọng.
Xét ở mặt khác ở ngoại hàm mệnh đề trên,
cũng đôi khi, chính hiện thực hiện tại lại có những yếu tố gợi
ư khiến ta nhận thức lại quá khứ chính xác hơn, ở những khía cạnh,
những điểm nào đó, mặc dù lượng thông tin khách quan trong sử sách cổ
(*) vẫn vậy.
V́ vậy, tôi học tập, nghiên cứu lại lịch
sử.
3
Có một điều nữa, điều này khiến sách sử
được viết lại bởi các sử gia hẳn hoi, vẫn chứa đựng nhiều phân số sai
lệch do tuỳ tiện, do cảm nhận riêng, tâm thế riêng. “Tam sao thất bổn”
đă là một tệ nạn sử học, mặc dù người chép tay, khắc ván ngày xưa, người
xếp chữ typo với các con chữ kẽm vừa qua, người thực hiện vi tính hiện
thời có ư thức so sánh, đối chiếu, sửa lỗi in ấn là rất cẩn trọng. Tuy
vậy, vẫn có người không phải hiểu lầm do lỗi in ấn, mà thực sự lợi dụng
sự sai sót về lỗi in ấn để xuyên tạc! Những người ấy dám coi khinh cả
nguyên tắc hiệu đính văn bản! Nhưng như thế vẫn c̣n chưa tệ hại bằng
những sử gia nhớ lệch, do lỗi thuộc về trí nhớ (mặc dù họ có thể rất
thành thật, không có ư xuyên tạc sử liệu), do thiếu ư thức về phương
pháp, là không hề trích dẫn một tí nào tư liệu gốc mà họ sử dụng và cũng
chẳng cước chú xuất xứ sử liệu bao giờ, thậm chí không có lấy một nửa
trang ghi chú về tư liệu tham khảo!
Tệ nạn này đă từng biến tôi và nhiều
người khác thành nạn nhân. Ta cứ dại dột tin vào những ǵ được các sử
gia có tên tuổi viết, chẳng hề tra cứu lại, không ngờ họ viết sai, viết
lệch vô số chi tiết, thậm chí cả những sự kiện lớn, những nhân vật lớn
cũng sai lệch nốt!
Thử giở lại những cuốn sách lịch sử của
các sử gia tên tuổi mà xem. Đó là tệ nạn có thật, nhưng thiết tưởng cũng
không nên nhắc các tên tuổi ấy làm ǵ, sợ rằng mích ḷng họ (trừ những
trường hợp cực chẳng đă, đành phải nêu đích danh, cho dù danh của
danh nhân).
Do đó, tôi phải học tập, nghiên cứu lại
sử học. Trước hết là phải ghi nhớ điều rất giản dị đă trở thành tục ngữ:
“nói có sách, mách có chứng”; sách và chứng đều
phải được cân nhắc, khảo nghiệm cẩn thận, tốt nhất là các tư liệu gốc đă
được giám định khoa học thực nghiệm (đặc biệt là các tư liệu gốc mới
phát hiện hoặc mới công bố). Phải loại trừ tư liệu giả. Phải phân loại
tư liệu: tư liệu gốc; tư liệu loại 1; tư liệu loại 2… Phải xử lí tư liệu
của đối phương (Trung Hoa, Pháp, Nhật, Mỹ) bằng cách lật ngược, xoay
ngược nhăn quan, lập trường. Không thể không trích dẫn tư liệu gốc để
làm các luận cứ, luận chứng cho mỗi nhận định. Tôi phải dặn ḷng ḿnh
như thế, quyết tâm như thế. Cũng v́ vậy, nên khi viết cuốn sách mỏng này,
tôi hết sức tập cho ḿnh tính kiên nhẫn và cẩn trọng trong việc chép lại
các tư liệu gốc để làm cơ sở cho mọi suy nghĩ của ḿnh.
Về điểm này, tôi cũng xin tự phản biện
rằng: Trích dẫn nguyên văn tư liệu gốc của đối phương (Trung Hoa, Pháp,
Nhật, Mỹ trong các giai đoạn lịch sử cụ thể) và của những người Việt
phản quốc hoặc người Việt ít nhiều khác quan điểm, nhất là khác chính
kiến (khác nhận thức chính trị) là tiếp tay cho các lực lượng thù địch,
đối lập ấy truyền bá các luận điệu bôi nhọ, xuyên tạc. Như thế chỉ bất
lợi thêm cho dân tộc ta, trong đó có những nhân vật lịch sử yêu nước,
anh hùng, chân chính và cao đẹp.
Tôi biết, có người nêu vấn đề như tôi đă
tự phản biện một cách giản dị hơn: Trích dẫn nguyên văn tư liệu gốc dạng
trái ngược 1800, người nghiên cứu tuy thành tâm với ư thức khoa học
nhưng rơ là dại dột, thậm chí là ngu ngốc. Thông minh nhất là sử dụng
loại sử liệu ấy (sau khi chỉnh lí đúng với quan điểm địch – ta), dưới
h́nh thức lời dẫn gián tiếp, có chua xuất xứ sử liệu (**).Tuy nhiên,
đó chỉ là một cách. Lời dẫn trực tiếp với các trích dẫn nguyên văn lại
có giá trị thuyết phục cao hơn. V́ vậy, phải thật linh hoạt một cách
trung thực, công bằng, khoa học.
Vả lại, trong việc khảo luận, phê b́nh
sử học, cũng tương tự như trong công việc ấy ở lĩnh vực văn học, chúng
ta luôn luôn phải đối mặt trực tiếp với tư liệu cần khảo chứng và phê
phán. Và mọi việc đều có thể có hai khả năng: xấu – tốt; tác dụng – phản
tác dụng. Nhận thức được khả năng thứ hai là khả năng xấu, phản tác dụng,
“lợi bất cập hại” như vậy trong việc trích dẫn tư liệu gốc của các lực
lượng đối phương và của những cá nhân, phe phái đối lập, mặc dù trích
dẫn với mục đích đă xác định là để khảo chứng và phê phán, do đó, cho
nên, tôi thấy cần phải phê phán thật triệt để, thật mạnh mẽ và quan
trọng nhất là phê phán trúng tim đen, phê phán có hiệu quả, có sức
thuyết phục, đồng thời phải luôn luôn tự nhắc nhở chính ḿnh một nguyên
tắc khá sơ đẳng là phê phán tư liệu gốc của đối phương, đối lập, kể cả
những ai ít nhiều khác quan điểm, phải đi đôi với việc khẳng định bằng
tư liệu gốc của ta, khẳng định một cách vững chắc, minh bạch, xác thực
và quan trọng nhất là phải khẳng định một cách thực sự khoa học. Cũng
không quên rằng, đối với sử cận – hiện đại, cũng nên xác định có những
cá nhân, lực lượng người Việt Nam, cần phải tranh thủ, phải nhân hậu
trong khi phê phán.
Có người bạn đă nhắc nhở tôi rằng, đi
vào lĩnh vực sử học cần phải thật “lạnh lùng”, cần bỏ hẳn những tính từ,
trạng từ biểu cảm. Tôi biết, ngày xưa, các sử gia viết sử theo tinh thần
Kinh Xuân thu của Khổng Tử, với mục đích dùng sử học để nêu gương
tốt và để răn điều ác, bên cạnh mục đích chính của sử là kí sự chân thực,
cho nên ngôn từ thể hiện sắc thái biểu cảm rất rơ. Viết sử theo tinh
thần Kinh Xuân thu, không thể v́ mục đích này mà quẳng bỏ mục đích kia
một cách sai lầm. Theo đó, có hai cách, thái độ b́nh phẩm thể hiện nhuần
nhị trong khi kí sự (thuật sự); hoặc thuật sự “lạnh lùng” nhưng bên dưới
phải có mục lời bàn của sử gia. Và cho dù không hoàn toàn viết sử theo
tinh thần Kinh Xuân thu, mà theo cách hiện đại, cũng phải bảo đảm hai
yêu cầu đó (chân, thiện), ngoài yếu tố cần thiết khác là phải
trong sáng, chính xác về ngôn từ (mĩ). Mặt khác, tôi nghĩ, cổ sử
của nước ta khá sơ lược; vả lại, không thể không đánh giá (b́nh phẩm)
theo quan điểm lịch sử – cụ thể, v́ ngôn từ sử cổ có nhiều chỗ thể
hiện quan điểm phong kiến trong thời đại phong kiến nhưng cũng phải
trích dẫn nguyên văn; thêm vào đó, ở lĩnh vực sử học, không thể có
một mảy may t́nh tiết hư cấu về sự kiện, về nhân vật, nên không thể như
trong lĩnh vực tiểu thuyết, nhà văn hoàn toàn có quyền hư cấu sự việc,
t́nh tiết để sự việc, t́nh tiết ở dạng mộc nhất tự nó thể hiện thái độ,
b́nh phẩm của chính nhà văn.
Và điều cuối cùng về khía cạnh này là,
dẫu sao đi nữa, cũng phải trung thực, tôn trọng tối đa sự thật lịch sử;
không thể bóp méo sự thật lịch sử theo tâm thế cá nhân, theo ư đồ chủ
quan, hoặc theo phương châm chính trị “cứu cánh biện minh cho phương
tiện” (“vấn mục đích, bất vấn thủ đoạn” (***)) với ư thức rơ rệt ở
một số người – những người đă dùng sử học như một thủ đoạn đấu tranh
chính trị, tuyên truyền chính trị (sử học dạng machiavelisme!).
Học tập, nghiên cứu sử, luận bàn về sử,
tôi không thể không băn khoăn như thế.
4
Xin thưa thêm một điều khác nữa. Đây có
vẻ là một khía cạnh như thể là tâm sự hơn là học thuật.
Hầu như không ai trong thế hệ tôi không
thuộc ḷng một vài khúc ca từ của nhạc sĩ thiên tài Trịnh Công Sơn,
trong tập Ca khúc da vàng của anh. Đó là những ǵ thao thức, trăn
trở quằn quại nhất, da diết nhất của một thời đă được Trịnh Công Sơn
viết thành nhạc. Những bản nhạc ấy là của cả một thế hệ và của riêng
Trịnh Công Sơn. Thế hệ sai hay Trịnh Công Sơn sai ở những câu hát này,
trong bài Gia tài của Mẹ:
Một ngh́n năm nô lệ
giặc Tàu
Một trăm năm đô hộ: giặc Tây
Hai mươi năm nội chiến từng ngày
Gia tài của Mẹ để lại cho con,
gia tài của Mẹ: một nước Việt
buồn…
(…) Dạy cho con tiếng nói thật thà
Mẹ mong con chớ quên màu da (…)
Nước Việt xưa
(…) Mẹ trông con mau bước về nhà
Mẹ mong con, lũ con đường xa,
ôi lũ con cùng Cha: Quên hận thù
(…) Gia tài của Mẹ: một bọn lai căng
Gia tài của Mẹ: một lũ bội t́nh (…)
Một ngh́n năm
nước ta bị đô hộ bởi giặc Tàu, có ǵ
sai đâu! Cũng như vậy, chẳng có ǵ sai nghiêm
trọng ở câu ca từ, vốn không ai đ̣i hỏi sự minh xác về từ ngữ, về số
lượng: Một trăm năm dân tộc ta bị gánh ách nô lệ của giặc Tây.
Sai ǵ đâu khi Trịnh Công Sơn phê phán bọn tô trắng da, nhuộm vàng tóc,
mất gốc, lai căn cả về tư tưởng, tâm hồn, đến mức phản bội dân
tộc. Cái sai là ở một vài khía cạnh trong những câu c̣n lại. Hai mươi
năm nội chiến từng ngày là quá sai rồi, về nhận thức lịch sử.
Đứng ở thời điểm sáng tác 1967, 1968 (có thể sớm hơn vài năm), Trịnh
Công Sơn tính toán thời đoạn anh gọi là nội chiến, kể từ năm nào? 1945?
Và nh́n chung, anh c̣n sai nghiêm trọng ở tâm t́nh nữa.
Ở đây, tôi chỉ xin thưa, Trịnh Công Sơn
tủi hờn, u uất, buồn thảm đến tự ti dân tộc. Nhạc sĩ thiên tài chỉ thấy
khía cạnh tủi hận, không thấy khía cạnh quật khởi, hào hùng, bi tráng.
Nếu phân tích thêm, xin thưa, tuy nhận thức không đúng về bản chất hận
thù cũng như tính chất cuộc chiến tranh nửa cuối thế kỉ XX
(1945 ? – 1954 ? – 1968? – 1975) (****), Trịnh Công Sơn vẫn
nhân danh t́nh đồng bào, dân tộc, cùng chung cội rễ để xoá bỏ hận thù
một cách nhân bản và dân bản. Dĩ nhiên tư tưởng, thái độ và tâm trạng
Trịnh Công Sơn không dừng lại ở đó (*****). Tôi vẫn thường hát vài câu
ca từ của anh trong những năm sau ngày thống nhất Đất nước (1975):
Xanh lá xanh thêm cây
Xanh nên đời trẻ lại
Một mùa xuân thống nhất
Xanh nước non hôm nay
Xanh biếc con sông Hương
Mừng vui má (?) (******) sông Hồng
Về Cửu Long ca hát
Xanh lá cây một vùng…
Sở dĩ tôi nhắc lại những câu hát ấy là
để tránh những ngộ nhận với sự nhận thức khiếm khuyết về Trịnh Công Sơn,
khi không thể không ngẫm nghĩ lại Gia tài của Mẹ. Vấn đề ở đây là
Gia tài của Mẹ của một thời…
V́ thế, tôi đọc lại lịch sử và nghiên
cứu lại sử học. Những ǵ tôi viết có liên quan trực tiếp đến sử là từ
khúc ca từ này. Nội dung cuốn sách này chỉ là một trong ba thời ḱ lịch
sử được đề cập đến ở khúc ca từ ấy: Một ngh́n năm nô lệ giặc Tàu.
Điều chúng ta khát vọng nhất, phải chăng
là nước ta sẽ có những bộ sử vừa xác thực, khoa học và vừa thể hiện tinh
thần quật cường, anh hùng của dân tộc Việt Nam chúng ta. Chỉ với điều
kiện được sống trong thời đại độc lập, tự do thực sự, các sử gia mới có
thể b́nh tĩnh, tự tin viết sử một cách chân thực, khoa học, không bị sự
chi phối, sức ép nào từ các nước, các lực lượng đối phương trong lịch sử.
Trong khi chờ đợi, tôi phải học sử và viết lại những cảm nghĩ của ḿnh
về sử với niềm mong mỏi một sự chia sẻ.
TP. HCM., 11 giờ 18
phút ngày 22. 07. HB4
(06. 06 G. thân
HB4).
TRẦN XUÂN AN
Cước chú
của bài Lời thưa đầu sách:
(*) Đại Việt sử kí
toàn thư (gọi tắt là Toàn thư), bản in nội các quan bản
(1697); Khâm định Việt sử thông giám cương mục (1884) (gọi tắt là
Cương mục), tiền biên & chính biên; Đại Nam thực lục, tiền
biên & chính biên (chính biên gồm các kỉ I – VI) (trước 1879 & 1894;
riêng mỗi một kỉ VI [cuối năm 1885 – 1888] thuộc chính biên, viết theo
quan điểm ngụy triều Đồng Khánh, 1909).
(**) Thông thường, sách
báo tham khảo thể hiện lập trường, quan điểm tương đồng với phần lớn các
tác giả biên soạn sách mới (những người sử dụng chúng để tham khảo). Tuy
nhiên, cũng có loại sách báo trái nghịch. Cho nên, không ai ngạc nhiên
khi t́m đọc các tư liệu tham khảo thuộc loại do đối phương, đối lập viết,
sẽ thấy hoặc toàn bộ hoặc một khía cạnh nào đó về lập trường – quan điểm
đánh giá là ngược hẳn 1800. Xin đơn cử một cuốn sử, trong đó, Trưng Trắc
– Trưng Nhị, Triệu Thị Trinh, Lí Bôn, Khúc Thừa Dụ, Ngô Quyền… đều bị
đánh giá là những kẻ phản nghịch hoặc tiếm thiết. Xin xem: Lê Tắc, An
Nam chí lược
(thuộc Tứ khố toàn thư, Trung Hoa), bản dịch của Uỷ ban Phiên
dịch sử liệu Viện Đại học Huế (GS. Trần Kinh Hoà cố vấn), Viện Đại học
Huế xb., 1961; Nxb. Thuận Hoá, TT. Văn hoá – Ngôn ngữ Đông Tây tái bản,
2002.
(***) Phan Bội Châu,
Tự Phán, tác giả tự dịch ra tiếng Việt (chữ Nôm, 1929), Huỳnh Thúc
Kháng đề tựa (1946), Nxb. Văn hoá – Thông tin tái bản, 2000, tr. 12, 17,
18.
(****) Xin xem thêm:
Trần Xuân An, Mùa hè bên sông, tiểu thuyết, bản đă sửa chữa, bổ
sung lần thứ ba, in vi tính ngày 19. 12. 2003 (trọn vẹn gồm 745 trang [kể
cả phần chú thích, phụ lục] và phần ngoài sách gồm 15 trang [một bài thơ
viết về Quang Trung cùng các chú thích sử học], cỡ sách 13 cm x 19 cm).
Website Giao Điểm:
http://www.giaodiem.com
http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_III05/605_index.htm
(*****) Xem thêm: Hoàng
Phủ Ngọc Tường, Như con sông từ nguồn ra biển (truyện kí, 1971),
trong Tuyển tập HPNT., tập 2, Nxb. Trẻ, 2002, tr. 9 – 38; Trịnh Công Sơn,
Thư gửi Ngô Kha, tạp chí Đứng Dậy, số tháng 12. 1974, báo Thơ (phụ san
của tuần báo Văn Nghệ HNV. VN.), số 12 (06.2004); Trịnh Công Sơn,
Hạnh phúc (tuỳ bút), tuần báo Văn nghệ Giải phóng, số (?), 1975.
(******) “Má sông
Hồng”: bà má Nam bộ tập kết ra Bắc (sông Hồng là biểu tượng về Bắc
bộ). Chi tiết này, cần tra cứu lại.