TIỂU SỬ BIÊN NIÊN
K̀ VĨ PHỤ CHÍNH ĐẠI THẦN
NGUYỄN VĂN TƯỜNG
(1824 – 1886)
TRẦN XUÂN AN
biên soạn
tháng 3 HB1 ( 2001 )
(tháng 2 âl., Tân tị HB1)
Lúc khoảng 14 giờ,
mùng hai Tết Nguyên đán
Bính tuất HB6 ( 30-01-2006 ),
người biên soạn khởi công xếp chữ lại.
TRÂN TRỌNG KÍNH MỜI TRUY CẬP:
http://tranxuanantsbnnvt.blogspot.com/
TXA.
TRẦN XUÂN AN
NGƯỜI BIÊN SOẠN GIỮ BẢN QUYỀN
CHỌN LỌC THEO ĐỀ TÀI, kể cả những chi tiết nhỏ nhất,
ít liên quan nhất, VÀ RÚT GỌN THEO DẠNG NIÊN BIỂU, SÁCH DẪN CHI TIẾT, TỪ
TƯ LIỆU CHUẨN CỨ:
QUỐC SỬ QUÁN TRIỀU NGUYỄN, ĐẠI NAM THỰC LỤC, CHÍNH
BIÊN, tập 11 (xb. 1964), tập 24 (xb. 1971), tập 26 (xb. 1972) và các tập
từ 27 đến 38 (xb. 1973 – 1978), bản dịch Tổ Phiên dịch Viện Sử học Việt
Nam, Nxb. Khoa học Xă hội, Hà Nội, 1964 – 1978.
TƯ LIỆU CHUẨN CỨ
NÀY, TRONG ĐÓ, CÁC TẬP THUỘC ĐỆ TỨ, ĐỆ NGŨ, ĐỆ LỤC KỈ ĐƯỢC BIÊN SOẠN Ở
THỜI K̀ ĐẤT NƯỚC ĐĂ MẤT HẲN VÀO TAY THỰC DÂN PHÁP: triều Đồng Khánh
(1885 – 1889), triều Thành Thái (1889 – 1907), triều Duy Tân (1907 –
1916). Do đó, cần phải tự trang bị một
nhăn quan sử học dân tộc nhất, tiên tiến nhất để nghiên cứu tư liệu
chuẩn cứ này.
+++ Quê hương Quảng Trị: 1924 – 1950.
+++ Quá tŕnh hoạt động của bản thân nhân vật lịch sử
Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886): 1850 – 1886.
+++ Những sự kiện, nhân vật khác có liên quan, theo
tầm hoạt động từ địa bàn huyện , phủ – đạo, miền, đến cả nước, trong
bối cảnh lịch sử của khu vực – châu Á và quốc tế vào nửa cuối thế kỉ
XIX.
------------------------------
(*) Phần 2 : Trích đoạn nguyên văn “Đại Nam thực lục
chính biên”, các kỉ có liên quan.
Phần 2 này, tôi đă hoàn tất bản sưu tập (photocopy
các trang chọn lọc từ ĐNTL.CB., 599 tr. sách 14 cm x 20 cm) và đă sao
chụp thành 02 cuốn; gửi ở chú Nguyễn Văn Toàn (luật sư, TP. HCM.) 01
cuốn, 01 cuốn lưu tại nhà.
_____________________________________
_____________________________________
Ghi chú ngày 02. 04. 2005 (24.02. Ất dậu HB5)
(khi gửi emails / attchments cùng một số tác phẩm
sáng tác, biên khảo ra các báo chí hải ngoại để đăng tải và với hi vọng
t́m được tung tích bản thảo bị “thất lạc”)
Ở đó, thường có mặt một người thanh niên (không
rơ là công an hay là giáo dân Thiên Chúa giáo?), có tên là Tuấn (không
phải anh Tuấn vốn là người yêu của Lan Hà). Anh ta vốn hay đến tiệm vi
tính của Lan Hà chơi (thực chất là để theo dơi?) (3). Sau khi Lan Hà và
Tạ Thị Vân xếp chữ xong, anh ta chép vào hai đĩa mềm h́nh ảnh PCĐT. NVT.,
thơ chữ Hán và bản đồ Đại Nam, kinh thành Huế 1885, trao cho tôi,
bảo là file chữ. Tôi tin đúng là file chữ (bởi anh ta làm
trước mắt tôi với thao tác rất nhanh, như ảo thuật).
Cầm hai đĩa mềm và xấp bản thảo in vi tính theo
dạng sách về; cất đĩa, tôi đưa xấp bản thảo ấy đi photocopy (tại ngă tư
Lê Văn Sĩ – Trần Quang Diệu – Trần Huy Liệu, quận 3, TP. HCM. [nhà ông
Doăn Hứa]), để gửi cho bà con, bạn bè, đặc biệt là gửi đến anh Nguyễn
Hạnh (Tạp chí Xưa & Nay), Viện Sử học và Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử tại
Hà Nội để xin ư kiến.
Danh sách và ngày gửi sách in vi tính như sau:
1.
Inrasara (10. 9. 2001)
2.
Nguyễn Văn An (chú, bà
con, giảng viên ĐHSP. TP. HCM., 02. 9. 2001)
3.
Trần Viết Ngạc (giảng
viên ĐHSP. TP. HCM., 15. 9. 2001)
4.
Tạp chí Xưa & Nay (anh
Nguyễn Hạnh, bấy giờ là phó trưởng ban biên tập phía Nam,
13. 9. 2001)
5.
Nguyễn Q. Thắng (nhà
nghiên cứu, 15. 9. 2001)
6.
Viện Sử học Việt
Nam (17. 9. 2001)
7.
Tạp chí Nghiên cứu Lịch
sử (17. 9. 2001)
8.
Trần Đại Vinh (giảng
viên ĐHSP. Huế, 17. 9. 2001)
9.
Nguyễn Văn Toàn (chú,
bà con, luật sư, cùng với cuốn sưu tập các bài viết xuyên tạc trên sách
báo…, cũng vào tháng 9. 2001)
10.
Nguyễn Văn Sơn (chú, bà
con, làng An Cư, Triệu Phước, Triệu Phong, Quảng Trị; 05. 7. 2002)
11.
Nguyễn Công B́nh (biên
tập viên Chi nhánh NXB. Thanh Niên tại TP. HCM.; 10. 2003)…
Vài tháng sau ngày hoàn tất việc xếp chữ vi tính
(9. 2001), tôi đưa cho Lan Hà hai đĩa mềm đó, đặt vào máy, hoá ra chỉ có
h́nh ảnh PCĐT. NVT., thơ chữ Hán và bản đồ được scan mà thôi. Khi
ấy, tôi mới biết là người thanh niên tên Tuấn ấy “chơi khăm” (hay “tịch
thu” trái pháp luật?).
Hỏi Lan Hà file chữ c̣n trong ổ cứng không,
Lan Hà bảo máy vi tính cũ đă bán, bán luôn ổ cứng (?!?!). Thế là không
biết file chữ ấy trôi nổi vào đâu!
Đến nay, cần chép lại vào máy vi tính, cảm thấy
rất tiếc công lao bao nhiêu lần sửa “bon” khi nhờ Lan Hà xếp chữ. Nay
phải tự xếp chữ lại, rất mất th́ giờ!
Cũng cần ghi rơ để tránh t́nh trạng “thất lạc” (hoặc
bị “tịch thu”, gây khó khăn, bị đánh cắp bản thảo kiểu đó), gây ra bao
rắc rối về sau (4).
NẾU AI T̀M THẤY BẢN XẾP CHỮ VI TÍNH CỦA CUỐN SÁCH NÀY,
XIN VUI L̉NG THÔNG BÁO CHO TÔI ĐƯỢC BIẾT ĐỂ NHẬN LẠI. KÍNH ĐA TẠ.
(1) BẢN THẢO CHÉP
TAY NÀY (lược chép "Đại Nam thực lục", các kỉ liên quan) HIỆN NAY VẪN C̉N LƯU TẠI NHÀ TÔI.
(4) Ở b́a 4 của cả hai cuốn tiểu thuyết NGÔI TRƯỜNG
THÁNG GIÊNG & SEN ĐỎ, BÀI THƠ HOÀ B̀NH (cùng NXB. Thanh Niên, 2003), tôi
có in rơ:
“Tất cả các tác
phẩm, soạn phẩm biên khảo đă được xếp chữ vi tính, ấn hành với phạm vi
từ 10 đến 20 bản sách (gửi các nhà xuất bản, các người bà con và một số
bạn thân), trong khi chờ giấy phép và điều kiện để có thể xuất bản rộng
răi. TXA”.
LỜI THƯA ĐẦU SÁCH
[ TỪ ĐẠI NAM THỰC
LỤC CHÍNH BIÊN IV, V & VI (1847 – 1885 – 1888),
SUY NGHĨ VỀ GIAI
ĐOẠN LỊCH SỬ THUỘC THẾ KỈ XX (1930 – 1945 – 1975) ]
TRẦN XUÂN AN
Một con người thật
sự sống, không thể chỉ tồn tại như một vật thể trong quan hệ duy nhất –
quan hệ với thiên nhiên (khí hậu, cỏ cây…). Do đó, hầu như ai cũng chịu
sự tác động bởi các sự kiện thuộc về thời cuộc và đều ít nhiều tác động
lại các sự kiện đó, tuỳ theo cách thế của ḿnh.
Đó là một nhận thức
không có ǵ mới, trong việc nghiên cứu một nhân vật, giữa thực tiễn hằng
ngày, ở các sáng tác văn chương…
Đối với nhân vật
lịch sử, cuộc đời của họ đă tạo nên các nét lớn, các nét chủ đạo của bức
tranh thời đại họ sống. Tất nhiên, dẫu là nét lớn, nét chủ đạo, cũng
không thể tách hẳn ra khỏi tổng thể bức tranh.
Đó lại là một ví von
có phần đơn giản hoá?
Trên một mặt phẳng
của khung vải, cho dẫu với bút pháp, quan niệm nghệ thuật thuộc trường
phái hội họạ nào đi nữa, cũng khó thể hiện một chân dung giữa cả một
thời đại với các nhân vật và sự kiện một cách chi tiết, gồm cả chiều sâu
của từng tâm trạng và khuất khúc của bao vấn đề.
Các ẩn dụ nghệ thuật
sinh động, hàm súc, mang tính biểu tượng cao về lịch sử lại cần đến các
thẩm thức sâu rộng về sử học, một khoa học luôn vươn tới sự minh xác (minh
bạch và xác thực!).
Tôi mạn phép mượn
lối ví von quen thuộc ấy để nói lên một điều: Nghệ thuật bất ḱ loại
h́nh ǵ, ngay cả tiểu thuyết, khi đi vào đề tài lịch sử, cũng cần có sự
bảo chứng của khoa học lịch sử, cả về phía sáng tác lẫn phía thưởng
ngoạn.
Do đó, hơn mười năm
nay (chưa kể những tháng năm trước đó), tôi bước vào sử học, ra sức làm
một người nghiên cứu, biên soạn.
Trong hạn chế của
người biên soạn, trước hết, ở cuốn sách “Tiểu sử biên niên Ḱ Vĩ phụ
chính đại thần
Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886)” [*a], tôi chọn lọc và rút
gọn các vấn đề, các sự kiện, kể cả những chi tiết nhỏ nhất, ít liên quan
nhất đến nhân vật lịch sử
Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886), nghĩa là không
sót chi tiết nào, từ tư liệu chuẩn cứ (Đại Nam thực lục), cũng chỉ theo
quan niệm trên.
Công việc ấy xem ra
không mấy phức tạp, nhưng thực sự không phải như vậy.
Về giai đoạn lịch sử
Nguyễn Văn Tường sống, hoạt động, công việc nghiên cứu thật khó khăn.
Nghiên cứu về Ḱ Vĩ phụ chính đại thần
Nguyễn Văn Tường, “kẻ thù không
đội trời chung”, “kẻ thù lớn nhất của nước Pháp” với chủ nghĩa thực dân
thời bấy giờ của bọn thống trị tại Pháp và bọn trực tiếp xâm lược, người
mà thực dân Pháp quyết đập tan tành uy tín, người đă bị bọn gián điệp
đội lốt linh mục, giám mục, hoặc linh mục, giám mục thật, nhưng mang bản
chất xâm lược cuồng bạo, thực hiện mưu toan vói tay vào sử học (BAVH.)
để xuyên tạc, bôi nhọ ngay cả sau khi
Nguyễn Văn Tường đă “bị nước Pháp
đày cho chết” [1], công việc nghiên cứu ấy quả là không dễ dàng.
Người biên soạn đă
có một lần thưa đầu sách cho cuốn “Ḱ Vĩ phụ chính đại thần
Nguyễn Văn
Tường, thơ – Vài nét về con người, tâm hồn và tư tưởng” [2] trước những
khó khăn gặp phải ấy:
“”Đại Nam thực lục,
chính biên”, đệ tứ và đệ ngũ kỉ, được Quốc sử quán triều Nguyễn biên
soạn chính thức dưới triều Thành Thái [3], đồng thời đă được cẩn mật
khắc in cũng vào thời điểm vị vua yêu nước này chưa bị thực dân Pháp lưu
đày, dù với số lượng ít ỏi, cất giấu trong kho sử, đă làm sáng tỏ con
người, tư tưởng và toàn bộ hoạt động chính trị của
Nguyễn Văn Tường [4].
Tất nhiên, tính chất bảo hoàng của một vương triều suy vi vẫn chi phối
các cây bút chép sử! Do đó, mọi sự kiện được tŕnh bày, dẫu đă được làm
rơ – Nguyễn Văn Tường và nhóm chủ chiến làm đúng mọi điều trong điều
kiện lịch sử cụ thể bấy giờ – vẫn là cái rơ nhuộm màu phê phán. Cũng như
các nhân vật lịch sử thuộc nhóm chủ chiến,
Nguyễn Văn Tường trong “Đại
Nam thực lục, chính biên”, đệ tứ và đệ ngũ kỉ, nhất là các trang sử chưa
kể đến – đệ lục kỉ (khắc in vào thời Duy Tân c̣n quá bé!) – gây cho
người đọc hiệu ứng phản cảm, chí ít cũng mất cảm t́nh, mặc dù với nhận
thức lí tính – có suy ngẫm, phân tích – , thấy ông lẫn các thành viên ấy
đúng là những con người có nhân cách cao đẹp, ít ra cũng đứng đắn [5],
có ḷng yêu nước sâu nặng, quyết tâm chống Pháp xâm lược và chống nhà
Thanh mưu toan bành trướng, quyết tâm giữ vững sự tự chủ cho vương triều
Nguyễn, quyết tâm chống các vị vua đầu hàng, dâm ô, bọn quan lại cơ hội,
câu kết với giặc Pháp.
Dẫu sao, hiệu ứng do
chất bảo hoàng và sự rụt rè ở các cây bút chép sử triều Nguyễn, từ tập
27 đến tập 36 “Đại Nam thực lục, chính biên” (ĐNTL.CB.) vẫn là thứ hiệu
ứng tai hại! Đó là chưa nói đến độc tố ở tập 37 và 38!
Tuy vậy, nếu chỉ
ĐNTL.CB. kỉ IV và kỉ V cũng đă đủ rơ Thành Thái đúng là một Lê Thánh Tôn,
c̣n Nguyễn Văn Tường là Nguyễn Trăi, và vấn đề chỉ c̣n chờ thời đại dân
chủ, cách mạng làm sáng tỏ hơn, gột tẩy đi các màu sắc bảo hoàng đến mức
ngu trung ở bộ sử, do hạn chế đáng tiếc của thuở bấy giờ, với các sức ép
phong kiến, thực dân, “tả đạo”, chủ “hoà”… Riêng đệ lục kỉ (tập 37 –
tập 38), nếu gạt đi màu sắc phản quốc một cách cố ư (?) trong cách chép
sử [*b], sẽ có những lượng thông tin hiện thực làm sáng tỏ hai kỉ [IV
&V] kia, gồm cả hiện thực về nhân cách Đồng Khánh, vốn hay lạm thẳng,
thiếu thuần lương (nhận định nghiêm túc và thành khẩn của Tự Đức trong
di chúc!).
Nhưng trong thực tế
lịch sử, có biết bao luồng thông tin gây nhiễu, đầy ác ư với chiến dịch
xuyên tạc, dựng đứng chuyện bịa nhằm hạ uy tín những người lănh đạo, dập
tắt phong trào Cần vương và để răn đe! Bao người dân mù chữ, bao kẻ sĩ
vô tâm bị mắc mưu tuyên truyền của kẻ thù thực dân, kể cả thực dân “đội
lốt” Thiên Chúa giáo, hoặc bị hiệu ứng tai hại, bị nhiễm độc tố nói trên,
rồi lại sáng tác thơ ca ḥ vè, viết sách, viết báo! [*c].
Đến bây giờ, hẳn ai
cũng c̣n bị rối trong mớ ḅng bong của thực dân Pháp, bọn “đội lốt”(?!)
Thiên Chúa giáo từ thời ấy để lại [*c], khi nghiên cứu về
Nguyễn Văn
Tường và nhóm chủ chiến. Do đó, chúng tôi phải xác định tư liệu tương
đối đáng tin cậy nhất và đầy đủ nhất để làm chuẩn: “Đại Nam thực lục,
chính biên”, đệ tứ và đệ ngũ kỉ (kể cả đệ lục kỉ, với thao tác xới lật
cần thiết [*d]. Rối nhiễu nhưng với phương pháp luận khoa học về văn bản
học, về công việc thẩm định tư liệu, nhất là tư liệu trong hơn nửa thế
kỉ mất nước (1885 – 1945) và ba mươi năm chiến tranh (1945 – 1975), tôi
thấy không c̣n tư liệu nào đáng tin cậy và đầy đủ hơn bộ sử ấy, đặc biệt
với hai kỉ (đệ tứ – đệ ngũ) ấy. Dẫu có những hạn chế nhất định như đă
nói, nhưng Quốc sử quán triều Nguyễn vẫn giữ được tính độc lập tương đối
của một tổ chức sử gia, lại thừa điều kiện – tŕnh độ học vấn; tư liệu;
quá tŕnh sống với các sự kiện thời đại đó… – nên hơn ai hết và hơn đâu
hết, họ có thể làm tốt chức năng chứng nhân. Điều quan trọng là tính
khuynh hướng trên lập trường dân tộc. Điều đó được thể hiện khá rơ, chưa
kể ở mạch ngầm của các trang sử, khiến hậu thế có thể tin cậy. Tất nhiên,
hậu thế phải biết cách đọc bộ sử ấy, đặc biệt là hai kỉ (IV & V) ấy, với
nhăn quan sử học tiên tiến nhất, khoa học nhất của thời đại ḿnh. Riêng
đệ lục kỉ (2 tập 37 – 38), cũng hết sức quan trọng, nếu “thông cảm” cách
chép sử bấy giờ với quan điểm phản quốc, đánh giá nhân vật, sự kiện theo
tiêu chí ngược để lưu lại sự thật cho hậu thế minh xét. Tôi đă vượt lên
hạn chế của bản thân, nghiên cứu, vận dụng sáng tạo để cuối cùng đi đến
nhận định trên, xác định được chuẩn cứ đó! Phải có chuẩn cứ, để căn cứ
vào đấy mà tham khảo, đối chiếu, đăi lọc, tiếp nhận, phê phán, loại trừ
các nguồn tư liệu khác, kể cả Thi tập, nhất là châu bản được chép lại ở
một số sách không phải tư liệu gốc. Rối nhiễu, để lần gỡ, phối kiểm, đăi
lọc xong, lại sáng lên cảm xúc có tính lương tâm và dân chủ.
Trên cơ sở những
nhận thức ấy, chúng tôi chân thành cảm ơn các nhà khoa học lịch sử, các
nhà giáo đă có tham luận tâm huyết trong kỉ yếu của Hội nghị trên [6],
tuy có người c̣n định kiến…
Tôi tin rằng đă đến
lúc thoát khỏi t́nh trạng “đẽo cày giữa đường” do nhiễu loạn “tư liệu”
[7]”.
Nghiên cứu về Ḱ Vĩ
phụ chính đại thần
Nguyễn Văn Tường và giai đoạn lịch sử ấy c̣n phải
đụng chạm đến một vấn đề tế nhị, dễ gây tổn thương đến t́nh cảm tôn giáo
của không ít người. Người biên soạn cũng mạo muội xin thưa ở lời thưa
đầu sách ấy:
“Trong tinh thần
đoàn kết dân tộc nhưng vẫn đảm bảo tính khách quan sử học, với ư thức
tôn trọng sự thật lịch sử, tôi đă khu biệt rơ đối tượng cần phê phán
thường được gọi là bộ phận “tả đạo” trong Thiên Chúa giáo. Đó là các
giám mục, linh mục mang bản chất thực dân, hoặc thực dân đội lốt tu sĩ
Thiên Chúa giáo… Về Thiên Chúa giáo ở Việt Nam, nhận định của các giáo
sư như Trần văn Giàu, TS. Cao Huy Thuần, TS.Yoshiharu Tsuboi, TS. Trần
Ngọc Thêm, linh mục viện sĩ Trần Tam Tỉnh [*e]… đă rất xác đáng ở các
cuốn sách đă xuất bản. Giáo hoàng Jean-Paul II cũng đă bày tỏ sự thống
hối chung trong buổi lễ ngày 12. 03. 2005 vừa qua… Xin giới thuyết rơ
nội dung cụ thể – lịch sử của từ “tả đạo” như vậy. Ngoài ra, tôi cũng đă
thể hiện cái nh́n riêng về vấn đề này trong tiểu thuyết “Mùa hè bên sông”
[7b]”.
Cho đến lúc biên
soạn lần thứ hai cuốn tiểu sử biên niên theo dạng niên biểu về nhân vật
Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886), chúng tôi vẫn băn khoăn và vẫn tự mạnh
dạn trả lời cho câu hỏi đă được đặt ra: T́nh cảm Thiên Chúa giáo chẳng
lẽ là sự đồng loă với thực dân và bọn “tả đạo” để tiếp tục xuyên tạc sự
thật lịch sử và khoái trá trong việc tiếp tục bôi nhọ những gương mặt
anh hùng, cho dù là anh hùng bi tráng như
Nguyễn Văn Tường và nhóm chủ
chiến triều đ́nh Huế? Và t́nh cảm Thiên Chúa giáo chẳng lẽ là sự ca ngợi
những tên thực dân, cướp nước tự mệnh danh là “sứ giả Thiên Chúa”, chẳng
lẽ là sự tôn vinh bọn bán nước, cam tâm làm tay sai cho thực dân, đế
quốc, được dán lên nhăn hiệu “thánh tử v́ đạo”, “người trí thức bản xứ
làm sáng danh Thiên Chúa” của “mẫu quốc Pháp”, “nước đỡ đầu: Mỹ”? [*g].
Đó là những khó khăn,
vấn nạn. Người nghiên cứu, biên soạn đă cố gắng, thậm chí, phải nói là
đă nỗ lực, để yên tâm vượt qua.
Và cũng có lẽ chẳng
cần phải tŕnh bày nhiều thêm, ngoại trừ đôi điều cụ thể.
Trước khi khảo cứu
và đặt bút viết những cuốn sách với đề tài này, tôi đă sưu tập và nghiên
cứu nhiều tư liệu, sách báo viết về
Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886), như
đă thưa trước. Từ đó, tôi cũng tuyển chọn để h́nh thành một cuốn sách
thuộc dạng sưu tập – ghi chú, tức là phần II của cuốn sách “Tiểu sử biên
niên…”. Đó là “Những trang Đại Nam thực lục về Ḱ Vĩ phụ chính đại thần
Nguyễn Văn Tường và các sự kiện thời ḱ đầu chống Pháp…” của Quốc sử
quán triều Nguyễn (bản dịch Viện Sử học Việt Nam tại Hà Nội) [*h].
Dẫu vậy, cuốn sách
ấy vẫn thuộc vào công đoạn đầu trong quá tŕnh nghiên cứu về Ḱ Vĩ phụ
chính đại thần
Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886), trước khi làm công việc
chú thích cho Thi tập của ông, gồm cả việc làm sáng tỏ một vài chủ điểm
sử học trọng yếu, liên quan.
Đây cũng chính là đề
cương cho cuốn truyện – sử kí – tư liệu lịch sử [*i] tôi đă viết và
đă xuất bản (12-2004).
Người biên soạn,
nghiên cứu nghĩ rằng, ngay tự thân cuốn tiểu sử biên niên dạng niên biểu
(chưa kể những cuốn sách khác tôi đă viết về đề tài này) sẽ tiện lợi cho
việc t́m hiểu, nghiên cứu về
Nguyễn Văn Tường và nhóm chủ chiến triều
đ́nh Huế cũng như giai đoạn lịch sử 1858 – 1885 và phong trào Cần vương
sau đó. Đó là giai đoạn đầu dân tộc ta bước vào cuộc chiến đấu chống lực
lượng xâm lược Pháp, chủ nghĩa thực dân Pháp và Phương Tây nói chung.
Đó là cuộc chiến đấu trước sự tấn công bằng nhiều loại vũ khí và trên
các mặt trận, từ tôn giáo, văn hoá, kinh tế, ngoại giao, chính trị đến
quân sự. Đó là một h́nh thái chiến tranh khá lạ lùng so với các h́nh
thái chiến tranh trong khu vực châu Á – Thái B́nh Dương.
Người nghiên cứu,
khảo luận cũng nghĩ rằng cuốn sách sẽ có chút hữu ích nào đó để hiểu hết
chiều sâu, tầm cao của cuộc kháng chiến chống Pháp, Nhật, Mỹ và bá quyền
Trung Quốc giai đoạn sau của dân tộc ta do Đảng Cộng sản Việt Nam, Bác
Hồ và Lê Duẩn lănh đạo, với thiên tài quân sự Vơ Nguyên Giáp.
Hơn nữa, từ đó, thấy
được lô-gích (logic/logique) lịch sử có tính tất yếu trong công cuộc
chống chế độ Diệm – Thiệu (đều là “tả đạo” trong Thiên Chúa giáo, ít ra
là kể từ nửa sau thế kỉ XIX) của lực lượng Phật giáo và của đại bộ phận
nhân dân mặc nhiên hoặc có ư thức thuộc về chủ nghĩa dân tộc truyền
thống – hiện đại, tại Miền Nam Việt Nam, suốt 21 năm (1954 – 1975).
Trong đó, vai tṛ lịch sử của Phật giáo Miền Nam Việt Nam là hết sức nổi
bật. Phật giáo đă kế thừa được truyền thống gắn bó với vận mệnh dân tộc
từ cổ đại đến giai đoạn Cần vương (1883 – 1896…) và cho đến tận giai
đoạn 21 năm chia cắt Đất nước ấy. Cũng không thể không thấy rằng, một bộ
phận khá lớn quân nhân từ trung cấp (cấp tá) trở xuống thuộc quân đội
Việt Nam Cộng ḥa và tầng lớp công chức ở cấp tỉnh thuộc chế độ Sài G̣n
là thuộc về lực lượng dân tộc chủ nghĩa, ngấm ngầm hay công khai chống
Diệm – Thiệu (1954 – 1975). Phật giáo và phân số nhân dân, quân nhân,
công chức ấy tại Miền Nam Việt Nam bị kẹt giữa hai gọng ḱm lịch sử, v́
họ chống “tả đạo” (một lực lượng vốn gắn liền với đội quân xâm lược Âu –
Mỹ), như cha ông họ đă chống từ nửa sau thế kỉ XIX, nhưng họ cũng không
thể đứng vào hàng ngũ những người cộng sản, duy vật, vô thần, chuyên
chính vô sản vốn thuộc một trong hai khối trong giai đoạn “chiến tranh
lạnh” (1945 – 1991, đứng đầu hai khối là Liên Xô – Mỹ).
Và chắc chắn những
cuốn sách này sẽ không phải là vô ích trong giai đoạn Đổi mới hiện nay,
mặc dù sử học vốn không thể “thực dụng” theo kiểu “sử học v́ mục đích
tuyên huấn…”.
Dẫu những trang sử
cũ măi c̣n đó, vẫn cần được in lại để đọc lại, viết lại với nhăn quan
khoa học sáng suốt, với cách nhận thức, đánh giá theo quan điểm lịch sử
– cụ thể [8]. Tuy nhiên, quá khứ vẫn thuộc về quá khứ, mặc dù quá khứ
luôn giúp chúng ta định hướng cho hiện tại, cho tương lai. Mọi người,
không trừ một ai, đều có quyền hi vọng ở những chương sử mới về những
chặng đường mới của dân tộc trong bộ sử của nhân loại (quốc sử và sử thế
giới), tuỳ theo cách thế của ḿnh [*k]. Công lí, đạo lí Việt Nam đă sáng
tỏ khắp cả hành tinh, từ cuộc kháng chiến 131 năm (1858 – 1989): đó là
chủ nghĩa yêu nước, tinh thần “không có ǵ quư hơn độc lập, tự do” (một
thứ tự do với nội dung qua mỗi thời ḱ mỗi phát triển, để tiến đến bao
hàm tất cả mọi quyền dân chủ, trong nỗ lực chung hiện nay); đó là ư chí
chống xâm lược, chống nô dịch bất ḱ màu sắc nào; đó là quyết tâm xây
dựng Đất nước trong ư hướng giữ ǵn, cách tân, phát huy bản sắc dân tộc
[9]; đó là quốc thể và phẩm giá Việt Nam trước lương tri loài người… Ư
thức sử tri (sự nhận biết mỗi người đều góp phần làm nên lịch sử ghi
nhận mọi tấm gương đức hạnh ở đời, mọi cống hiến ở tất cả các lĩnh vực…)
là một nét bản sắc Việt Nam. Ư thức sử tri đang và sẽ cùng mỗi người,
không trừ một ai, bước trong hiện tại, bước tới tương lai, với sự định
hướng của công lí, đạo lí rất Việt Nam, rất nhân loại ấy.
Để thấu hiểu những
điều trên, người nghiên cứu, biên soạn đă nghiền ngẫm trên từng trang sử
cũ…
Từ đó, những cuốn
sách về đề tài đă h́nh thành.
Thành thật mong mỏi
được kiểm chứng, đối chiếu với tư liệu chuẩn cứ và phát hiện giúp những
sai sót có thể do người nghiên cứu, biên soạn gặp phải, ngoài ư muốn.
Tuy nhiên, chắc chắn không thể có sai sót nào đáng kể, hoặc mạnh dạn nói
là không thể sai sót. Với ḷng trung thực trong công việc nghiên cứu
khoa học, xin phép được nhấn mạnh là tôi (người biên soạn, nghiên cứu)
hoàn toàn bám sát Đại Nam thực lục, các kỉ có liên quan đến đề tài, đồng
thời hết sức giữ đúng nguyên tắc chọn lọc (chọn lọc cũng có nguyên tắc
của nó).
Xin được chỉ dạy,
mách bảo, góp ư, phê b́nh. Với ḷng biết ơn, mong được nhận thư, sách,
báo và tạp chí…
TP.HCM., ngày 02.
06. 2001 (11.04. Tân tị HB1)
và tháng 5. 2005 (
HB5 )
TRẦN XUÂN AN
71B Phạm Văn Hai
P.3, Tân B́nh,
TP.HCM.
ĐT.: (08) 8453955
[ & 0908 803 908 ]
CƯỚC CHÚ
THUỘC BÀI VIẾT:
[*a] Phần chữ vi
tính trong ổ cứng computeur của cuốn sách dẫn chi tiết này đă bị người
xếp chữ (Nguyễn Nhị Lan Hà [đường Quang Trung, G̣ Vấp, TP. HCM.], con
gái anh Nguyên Minh, thành viên nhóm Ư Thức, Phan Rang) làm thất lạc.
Nay chỉ c̣n bản thảo viết tay và bản in vi tính.
(1) Các cụm từ
nguyên văn hoặc theo ư tưởng nguyên tác, in nghiêng, theo thứ tự, là của
H. Le Marchant de Trigon (NNBCĐH. [BAVH., 1917], tập IV, sđd. , tr.
273), Puginier (dẫn theo Trần Viết Ngạc và GS. Đoàn Quang Hưng, KY.
HNKHLS. CĐSP. TP.HCM., sđd., tr. 12 và KY. HNKHLS. ĐHSP. TP.HCM., sđd.,
tr. 101), De Champeaux (dẫn theo GS.TS. Yoshiharu Tsuboi, NĐN. ĐDVP. &
TH., sđd., tr. 270), H. de Pirey ((NNBCĐH. [BAVH., 1914], tập I, sđd.,
tr. 234). Xin xem bảng tên sách tham khảo viết tắt.
(2) “Ḱ Vĩ phụ chính
đại thần Nguyễn Văn Tường, thơ – Vài nét về con người, tâm hồn và tư
tưởng”, thi tập của
Nguyễn Văn Tường, do Trần Viết Ngạc, Trần Đại Vinh,
Vũ Đức Sao Biển, GS. Đoàn Quang Hưng, TS. Vơ Xuân Đàn, Nguyễn Tôn Nhan,
Trần Xuân An, TS. Ngô Thời Đôn sưu tầm, giới thiệu, khảo luận sử học,
dịch từ nguyên tác chữ Hán, nhuận sắc, chú thích, hiệu đính (chưa xuất
bản).
(3) Thành Thái ở
ngôi từ 1. 1889 đến 7. 1907, là con trai thứ bảy của Dục Đức.
(4) Chi tiết rất đẹp
của nhân cách Thành Thái, trong hạn chế lịch sử nhất định, là điểm này.
Tuy vậy, “Việt Nam sử lược” của Trần Trọng Kim (xb. 1921), mặc dù cũng
đă làm sáng tỏ lập trường chính trị của
Nguyễn Văn Tường là kiên định
chống Pháp, ngay lúc vâng mệnh ở lại Huế, lại có xuyên tạc đạo đức của
ông (và cả Tôn Thất Thuyết)!
(5) Trong nhóm chủ
chiến triều đ́nh Huế, chỉ có 3 nhân vật có cá tính thường bị vua Tự Đức
nhắc nhở, khuyên nhủ và đôi khi phê phán là Ông Ích Khiêm, Tôn Thất
Thuyết và Trương Văn Đễ. Tuy vậy, Tự Đức vẫn không phải không có nhiều
lần ngợi khen họ. Tôi không thể cho rằng các sử quan triều Nguyễn dám
xuyên tạc lời dụ của Tự Đức, mặc dù sử quan có quyền đưa vào Thực lục
hay gác lại những lời dụ dạng ấy, trong giới hạn cho phép của các nguyên
tắc viết sử (01. 04. 2005, chua thêm: nguyên tắc viết sử đại để phải bảo
đảm tính khái quát toàn diện, nghĩa là chọn những chi tiết tiêu biểu;
tiêu biểu nhưng phải tránh sự phiến diện). V́ vậy, tôi tin cá tính của
ba vị nói trên là có thật, và cũng có thật về Tự Đức vốn quen với cách
thức “thương cho roi cho vọt” theo kiểu một hoàng đế ngày xưa, ở những
lời dụ b́nh thường (xin nhấn mạnh: ở những lời dụ b́nh thường). Tôi cũng
tin lỗi lầm đến mức tự tiện xử án chém lính chăn voi, tử h́nh tên suất
đội phản bội, không tâu báo, của Tôn Thất Thuyết và Trương Văn Đễ là có
thật; cũng có thật các hành vi phá tán sự nghiệp và thanh danh trong bản
án về Ông Ích Khiêm. Tuy nhiên, cần so sánh lỗi lầm của họ với bao lỗi
lầm của nhiều quan lại, hoàng thân khác trong Thực lục, cần nh́n về họ
một cách toàn diện. Ḷng yêu nước, chí căm thù giặc xâm lược sâu sắc ở
họ vẫn là nét chủ đạo. Ánh sáng ấy có thể làm sáng cả những nét tối? Và
chắc chắn, họ không phải là h́nh ảnh xấu xa, hèn nhát, hiếu sát, cuồng
bạo như kẻ thù đă bôi nhọ họ. Riêng về đoạn cuối đời của Trương Văn Đễ,
tôi đă có ư kiến trong cuốn sách này (01. 04. 2005, chua thêm: Trương
Văn Đễ và Đinh Tử Lượng làm nhiệm vụ cản hậu, đánh lạc hướng truy kích
của thực dân Pháp. Chính v́ bản sớ kêu “oan” cho Trương Văn Đễ của
Trương Quang Đản vào năm Thành Thái thứ hai, (do áp lực thời giặc Pháp
thống trị), khiến hậu thế hiểu lầm về Trương Văn Đễ [xem: ĐNLT., sđd.,
tập 3, NXB. Thuận Hoá, 1993, tr. 425 – 426: phụ chép dưới tiểu truyện
Trương Đ́nh Quế]).
(*b) Trong kỉ đệ
lục (1885 – 1888, tập 37 – tập 38) của “Đại Nam thực lục, chính biên”,
viết về nguỵ triều Đồng Khánh, những nhân vật lịch sử trong nhóm chủ
chiến triều đ́nh Huế (Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết, Trương Văn Đễ,
Trần Xuân Soạn) và các nghĩa sĩ lănh đạo Cần vương ở các địa phương đều
bị lên án gay gắt bằng các từ ngữ như “làm giặc”, “làm loạn”, “quyền
thần”, “phản nghịch”… Trong khi đó, những tên giặc Pháp xâm lược đầu sỏ
như De Courcy, De Champeaux, Hector, những tên tay sai bán nước như
Nguyễn Hữu Độ, lại được đề cao, phong thưởng! Như thế là chép sử theo
tiêu chí phản quốc của nguỵ triều Đồng Khánh! Nói cách khác, “Đại Nam
thực lục, chính biên, kỉ đệ lục (nguỵ triều Đồng Khánh, 1885 – 1888)”,
viết theo tiêu chí trái ngược với công lí nhân loại, trái ngược với đạo
lí, tinh thần yêu nước truyền thống của dân tộc, để lưu lại sự thật cho
hậu thế minh xét.
(Chú thích ngày 31. 03. 2005).
(*c) Như “Bulletin
des amis du vieux Huế” (BAVH.) với các bài của các linh mục H. Pirey,
Delvaux… C̣n “Việt Nam vong quốc sử” của Phan Bội Châu thực sự là viết
theo thủ thuật “vấn mục đích, bất vấn thủ đoạn”, nhằm phục vụ cho ư đồ
chính trị tôn phù Cường Để – hậu duệ hoàng tử Cảnh, một hoàng tử đă theo
Thiên Chúa giáo –; chịu tác động của Duy tân Giáo đồ hội Nghệ – Tĩnh, cụ
thể bởi chuẩn linh mục Mai Lăo Bạng; chịu sự chi phối của Lương Khải
Siêu vốn thuộc phái bảo hoàng. Cụ Phan Bội Châu cũng ở trong quỹ đạo mắc
mưu tuyên truyền xuyên tạc và bôi nhọ này. Nguyên văn VNVQS., viết về
Nguyễn Văn Tường: “Người Pháp ghét hắn [NVT.] là người phản trắc, sợ có
hại về sau, bèn đưa hắn ra khơi, quẳng xác xuống biển, rồi đem cái quan
tài không bằng sắt về, bắt con cháu Tường bỏ ra hơn 10 vạn [lạng] vàng
để chuộc xác” (bản dịch, NXB. KHXH., 1982, tr. 77 – 78). Tác giả VNVQS.
(Phan Bội Châu & …) đă xuyên tạc tính chất ḷng thù hận của Pháp đối với
Nguyễn Văn Tường! Không những xuyên tạc, bôi nhọ mà c̣n sai lầm khi nhầm
cái chết của Phạm Thận Duật (người không có tên trong bản án chung thẩm
tháng 8 Ất dậu 1885) ở giữa biển với cái chết ở đảo Tahiti của
Nguyễn
Văn Tường (chú thích của dịch giả). Với cách phân loại, xử lí tư liệu,
loại trừ và thu nhận lượng thông tin khách quan [tuy không xác thực; sự
thật là NVT. mất tại Tahiti, 1886] (có nghĩa là, gạt bỏ thái độ biểu cảm
ác ư), tôi thấy: Dẫu sao, tác giả VNVQS. (Phan Bội Châu & …) cũng vô
h́nh trung thừa nhận sự thật là thực dân Pháp rất thù hận
Nguyễn Văn
Tường và con cháu của ông. Xin xem thêm về vấn đề này: “Nguyễn Văn
Tường,“những người trung nghĩa từ xưa, tưởng không hơn được”, cùng người
viết: Trần Xuân An, 2002, đă đăng trên website Giao Điểm, 5-2005:
http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_III05/505_index.htm
(*d) Trong chừng
mức nào đó, cũng tương tự như khi tham khảo An Nam chí lược của Lê Tắc,
một tên người Việt gốc Hoa phản bội nước Đại Việt, theo hàng giặc Nguyên
– Mông (viết về giai đoạn lịch sử từ cổ đại cho đến đời Trần nước ta ).
Lê Tắc gọi những anh hùng khởi nghĩa như Hai Bà Trưng là giặc (giặc của
bọn Tàu xâm lược!). Do đó, Lê Văn Hưu, Ngô Sĩ Liên phải làm động tác xới
lật cần thiết khi cùng các sử gia khác tham khảo để biên soạn bộ Đại
Việt sử kí và Đại Việt sử kí toàn thư. Đối với anh hùng thống nhất Đàng
Trong – Đàng Ngoài Nguyễn Huệ và phong trào Tây Sơn, vốn bị một số thư
tịch cổ gọi là “vua nguỵ”, “nguỵ Tây Sơn”, các sử gia sau này cũng phải
xới lật như vậy. Tất nhiên sự so sánh nào cũng khập khiễng. Ở đây, riêng
về ĐNTL. CB. đệ lục kỉ, các sử gia Quốc sử quán triều Nguyễn chép đúng
quan điểm, thái độ và hành trạng phản quốc của hai tên Đồng Khánh và
Nguyễn Hữu Độ ấy. Hai kẻ phản quốc này mạt sát
Nguyễn Văn Tường và nhóm
chủ chiến một cách thậm tệ (gọi họ là giặc, làm loạn, quyền thần…). Là
người hậu sinh, tôi chỉ lên án Đồng Khánh và Nguyễn Hữu Độ, và thừa hiểu
ư thức lưu lại sự thật cho hậu thế minh xét của Quốc sử quán qua bản
phàm lệ đệ lục kỉ: chép sử theo tiêu chí ngược.
(6) Hội nghị Khoa
học lịch sử về “Nhóm chủ chiến trong triều đ́nh Huế và
Nguyễn Văn Tường”,
20. 06. 1996, ĐHSP. TP.HCM. chủ tŕ.
(7) Trích nguyên văn
“Lời thưa đầu sách” (Trần Xuân An, KVPCĐT. NVT., T., VNVCN., TH. & TT.,
sđd., tr. 9 – 12 & tr. 14). Tôi dùng thành ngữ “đẽo cày giữa đường”
không có ư thực dụng chủ nghĩa trong việc nghiên cứu, nhận định sử học,
mà với nghĩa là thiếu tính độc lập trong công việc khoa học đ̣i hỏi phải
nghiêm túc, bản lĩnh ấy.
(*e) Cùng các học
giả, tiến sĩ như Cao Huy Thuần (tác giả cuốn “Các giáo sĩ thừa sai và
chính sách thuộc địa của Pháp tại Việt Nam, 1847 – 1914”, NXB. Tôn Giáo
tái bản, 2003)…
(Chú thích ngày 31. 03. 2005).
(7b) Trích nguyên
văn “Lời thưa đầu sách” (Trần Xuân An, KVPCĐT. NVT., T., VNVCN., TH. &
TT., sđd., tr.9 – 12 & tr. 14). Xin vui ḷng xem tiểu thuyết “Mùa hè bên
sông” (Nỗi đau hậu chiến), bản 2003.
(*g) Dẫu cho Nhà
nước CHXHCN. Việt Nam đă kí hiệp định thương mại với chính phủ Mỹ và
đang cố gắng b́nh thường hóa quan hệ ngoại giao, cũng phải nói và viết
đúng sự thật lịch sử… Thật là muộn màng nhưng cũng rất cần thiết khi ông
Seymour Topping, cựu tổng biên tập báo New York Times, người mà trước đó
từng thiết lập văn pḥng Hăng Thông tấn AP tại Việt Nam những năm 50
(XX), phóng viên trưởng New York Times, cũng tại Việt Nam, trong thập
niên 60 (XX), trả lời phỏng vấn của phóng viên Hà Nguyên, nhân chuyến
ông sang Việt Nam và đến thăm toà soạn báo Thanh Niên, đàm luận với tổng
biên tập Nguyễn Công Khế vào ngày 24. 03. 2005. Câu trả lời của Seymour
Topping, trước câu hỏi của Hà Nguyên, như sau: “Thất bại trong hoạch
định chiến lược của Mỹ là sự thiếu hiểu biết về văn hoá, lịch sử Việt
Nam, về quyết tâm của người Việt muốn được tự do, khỏi ách đô hộ ngoại
xâm. Nếu như năm 1945 [đúng ra là sau 1945 … – TXA. chua thêm], Mỹ phân
tích đúng đắn th́ Mỹ lẽ ra đă không bao giờ ủng hộ việc người Pháp quay
trở lại kiểm soát Đông Dương” (báo Thanh Niên, số 84 [3380], thứ sáu,
25. 03. 2005). Tôi nghĩ: Đáng lẽ ra, Seymour Topping phải nói thêm là Mỹ
đă sai lầm nghiêm trọng khi ủng hộ Thiên Chúa giáo qua hai “nền đệ nhất
và đệ nhị cộng hoà” Diệm - Thiệu!
(Chú thích ngày 31. 03. 2005).
(*h) So với bản
“Tiểu sử biên niên Ḱ Vĩ phụ chính đại thần
Nguyễn Văn Tường” đă in vi
tính, tôi có điều chỉnh lại ở đoạn tŕnh bày các công đoạn biên soạn này
của bài viết “Lời thưa đầu sách”. Trong thực tế, đúng là tôi có sưu tập
thêm một cuốn có tên gọi là “Ḱ Vĩ phụ chính đại thần
Nguyễn Văn Tường,
kẻ thù lớn nhất của chủ nghĩa thực dân Pháp” và đă viết ở Lời thưa đầu
sách nói trên như sau: “gồm những bài viết, những trích đoạn của các
giáo sĩ thực dân, các sử gia, nhà văn viết lách trong quỹ đạo thực dân (tất
nhiên với quan điểm, lập trường thực dân, bồi bút!) và của các nhà
nghiên cứu sử học khá đa dạng trong một vài thập niên gần đây…” (bản in
vi tính, sđd., tr. 18). Nhưng tôi thấy không cần thiết phải sưu tập để
làm thành sách loại này, mà chỉ dùng để tham khảo riêng. Do đó, cuốn
“Tiểu sử biên niên Ḱ Vĩ phụ chính đại thần
Nguyễn Văn Tường” được đổi
tên là: “Tiểu sử biên niên Ḱ Vĩ phụ chính đại thần
Nguyễn Văn Tường
(1824 – 1886), “kẻ thù lớn nhất của chủ nghĩa thực dân Pháp””, (từ Đại
Nam thực lục, rút gọn), dạng niên biểu, sách dẫn chi tiết, phần I, 2001.
(*i) Đến năm 2002,
tôi chỉ viết thành sách với thể loại tổng hợp: truyện – sử kí – khảo cứu
tư liệu lịch sử “Phụ chính đại thần
Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886)”;
xuất bản vào tháng 12. 2004.
(Chú thích ngày 01. 04. 2005)
(8) Quan điểm nhận
thức, thẩm định có tính đến các yếu tố cụ thể của một giai đoạn lịch sử
nhất định, từng nhân vật lịch sử nhất định… Yếu tố cụ thể bao gồm bối
cảnh quốc tế cụ thể, tương quan lực lượng cụ thể, đất nước cụ thể,
truyền thống văn hoá cụ thể, thể chế chính trị – xă hội cụ thể, t́nh thế,
t́nh huống, điều kiện và biện pháp cụ thể, nhân vật với cá tính, tư
tưởng cụ thể… Thẩm định (xem xét, đánh giá) lịch sử (sự kiện và nhân vật…)
không thể dùng tiêu chí, chuẩn mực, tŕnh độ khoa học kĩ thuật, điều
kiện của không gian – thời gian này (Việt Nam – thế kỉ XX) áp đặt vào
không gian – thời gian kia (Đại Nam – thế kỉ XIX). Tuy vậy, trên cơ sở
quan điểm lịch sử – cụ thể đó, cần có cái nh́n toàn thể (toàn cảnh thế
giới), cái nh́n bao quát đồng đại (cùng thời đại) và lịch đại (qua từng
thời ḱ lịch sử, từ cổ sơ đến hiện tại).
(*k) … với tư thế
một nhân vật lịch sử có tên tuổi hay như một thành viên vô danh của một
lực lượng, một phân số quần chúng, một cộng đồng dân cư địa phương.
Ngoài quốc sử ra, c̣n có những cuốn sử địa phương (sử làng, sử xă, sử
huyện, sử tỉnh), sử gia tộc…
(Chú thích ngày 31. 03. 2005).
(9) Xin hăy để
những thế hệ Việt Nam mai sau tự hào về diện mạo văn hoá – lịch sử Việt
Nam (gồm trên 54 nhân tộc, sống chan hoà trên một Đất nước toàn vẹn ,
thống nhất) với những gương mặt Việt Nam trong sự toả sáng các giá trị
phục hưng truyền thống thuần tuư Việt Nam, các giá trí phát minh, sáng
tạo đặc sắc, lành mạnh, hiện đại – dân tộc, về vật chất và tinh thần,
đóng góp vào văn hoá – lịch sử nhân loại, chứ không phải là các giá trị
ngoại nhập thiếu sự tiếp biến (“khúc xạ”)…
Trên đây là
nhận thức riêng và kiến nghị của người biên soạn.
Ghi chú bổ
sung ngày 01. 04. 2005: Xin xem thêm tiểu thuyết “Mùa hè bên sông” (b.
2003), đặc biệt là hai bài tiểu luận trong tiểu thuyết ấy: “Đọc lại
Tuyên ngôn Đảng Cộng sản của Marx – Engels” và “Ư nghĩ nhỏ về một truyền
thống lớn và một nhân vật lịch sử lớn” (Trần Xuân An [với cái tên nhân
vật tiểu thuyết là Trần Nguyễn Phan]).
TXA.
SÁCH THAM KHẢO Ở BÀI
NÀY:
1. Cao Huy Thuần,
Các giáo sĩ thừa sai và chính sách thuộc địa của Pháp tại Việt Nam (1847
– 1914) (CGSTS. & CSTĐ. CP. TVN…), NXB. Tôn Giáo tái bản, 2003.
2. Nhiều tác giả,
Những người bạn cố đô Huế (NNBCĐH.) (Bulletin des amis du vieux Huế [BAVH.]),
tập I – tập VII (1914 – 1919), Đặng Như Tùng, Bửu Ư, Hà Xuân Liêm, Phan
Xuân Sanh, Phan Xưng, Tôn Thất Hanh, Nguyễn Vi dịch và hiệu đính, NXB.
Thuận Hoá, 1997 – 1998.
3. Nhiều tác giả, Kỉ
yếu Hội nghị khoa học (KYHNKH.) “Nhóm chủ chiến triều đ́nh Huế và
Nguyễn
Văn Tường”, Trường Đại học Sư phạm (ĐHSP.) TP. HCM., 20. 06. 1996.
4. Nhiều tác giả, Kỉ
yếu Hội nghị khoa học (KYHNKH.) “Nhóm chủ chiến triều đ́nh Huế cuối thế
kỉ XIX”, Trường Cao đẳng Sư phạm (CĐSP.) TP. HCM., 11. 1991.
5.
Nguyễn Văn Tường
(1824 – 1886), Trần Xuân An (biên soạn) Ḱ Vĩ phụ chính đại thần
Nguyễn
Văn Tường, thơ – Vài nét về con người, tâm hồn và tư tưởng (KVPCĐT. NVT.
T. VNVCN. TH. & TT.), thi tập của
Nguyễn Văn Tường, do Trần Viết Ngạc,
Trần Đại Vinh, Vũ Đức Sao Biển, GS. Đoàn Quang Hưng, TS. Vơ Xuân Đàn,
Nguyễn Tôn Nhan, TS. Ngô Thời Đôn sưu tầm, giới thiệu, khảo luận sử học,
dịch từ nguyên tác chữ Hán, nhuận sắc, chú thích, hiệu đính (chưa xuất
bản).
6. Phan Bội Châu,
Những tác phẩm của Phan Bội Châu [NTPCPBC.] (tập I, gồm Việt Nam vong
quốc sử [VNVQS.] & Việt Nam quốc sử khảo [VNQSK.]), Văn Tạo chủ biên,
nhóm người dịch, giới thiệu và hiệu đính: Chương Thâu, Phan Trọng Báu,
Quốc Anh, Mai Ngọc Mai, NXB. KHXH., 1982.
7. Phan Ngọc, Bản
sắc văn hoá Việt Nam (BSVHVN.), riêng bài “Tư tưởng Hồ Chí Minh, đỉnh
cao của văn hoá Việt Nam”, NXB. Văn hoá – Thông tin, 1998.
8. Quốc sử quán
triều Nguyễn, Đại Nam liệt truyện (ĐNLT.), tập 3, NXB. Thuận Hoá, 1993.
9. Quốc sử quán
triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, chính biên (ĐNTL. CB.), tập 11 (xb.
1964), tập 24 (xb. 1971), tập 26 (xb. 1972) và các tập từ 27 đến 38 (xb.
1973 – 1978), bản dịch Tổ Phiên dịch Viện Sử học Việt Nam, Nxb. Khoa học
Xă hội, Hà Nội, 1964 – 1978.
10. Quốc sử quán
triều Nguyễn, Những trang Đại Nam thực lục về Ḱ Vĩ phụ chính đại thần
Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886) và các sự kiện thời ḱ đầu chống thực dân
Pháp… (NTĐNTL. V. KVPCĐT. NVT….) (Tổ Phiên dịch Viện Sử học VN.), TXA.
chọn lọc, phần II, 2001.
11. Tsuboi
(Yoshiharu), Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa (NĐNĐDVPVTH.),
Nguyễn Đ́nh Đầu và nhóm cộng tác viên dịch, Ban KHXH. Thành uỷ TP. HCM.
xuất bản, 1993.
12. Trần Trọng Kim,
Việt Nam sử lược (VNSL.), NXB. Tân Việt, (bản in lần thứ 7), 1964.
13. Trần Xuân An,
Mùa hè bên sông (MHBS.) (Nỗi đau hậu chiến), bản 2003.
14. Trần Xuân An,
Phụ chính đại thần
Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886) (PCĐT. NVT), truyện
– sử kí – khảo cứu tư liệu lịch sử, trọn bộ bốn tập, NXB. Văn Nghệ TP.
HCM., 2004.
15. Trần Xuân An,
Tiểu sử biên niên Ḱ Vĩ phụ chính đại thần
Nguyễn Văn Tường (1824 –
1886), “kẻ thù lớn nhất của chủ nghĩa thực dân Pháp” (TSBNKVPCĐT. NVT…),
(từ Đại Nam thực lục, rút gọn), dạng niên biểu, sách dẫn chi tiết, phần
I, 2001.
16. Trần Xuân An,
Nguyễn Văn Tường (1824 – 1886), “những người trung nghĩa từ xưa, tưởng
không hơn được” (NVT. NNTNTX…), khảo luận và phê b́nh sử học, 2002.
17. Nhiều tư liệu
khác đă được công bố bằng xuất bản như Tuyên ngôn Đảng Cộng sản của K.
Marx và F. Engels…
Bài viết này đă được
đăng tải trên website Giao Điểm ngày 27-5-2005 (VN.).
Bản này do chính tác
giả sao chụp lại từ website Giao Điểm số nói trên
và tự đính chính 3
lỗi sơ suất của ḿnh tại nhà riêng.
ĐÍNH CHÍNH
1. Giáo hoàng
Jean-Paul II cũng đă bày tỏ sự thống hối chung trong buổi lễ ngày 12.
03. 2005 vừa qua… Xin chữa lại một chữ số trong dăy chữ số chỉ năm: 12.
03. 2000 chứ không phải 12. 03. 2005.
2. Phật giáo đă kế
thừa được truyền thống gắn bó với vận mệnh dân tộc từ cổ đại đến giai
đoạn Cần vương (1883 – 1896…) và cho đến tận giai đoạn 21 năm chia cắt
Đất nước ấy. Xin thêm hai chữ “phát huy”: Phật giáo đă kế thừa được
truyền thống gắn bó với vận mệnh dân tộc từ cổ đại đến giai đoạn Cần
vương (1883 – 1896…) và phát huy cho đến tận giai đoạn 21 năm chia cắt
Đất nước ấy.
3. Ư thức sử tri (sự
nhận biết mỗi người đều góp phần làm nên lịch sử ghi nhận mọi tấm gương
đức hạnh ở đời, mọi cống hiến ở tất cả các lĩnh vực…) là một nét bản sắc
Việt Nam. Xin thêm dấu chấm phẩy ( ; ) và hai chữ “lịch sử”: Ư thức sử
tri (sự nhận biết mỗi người đều góp phần làm nên lịch sử; lịch sử ghi
nhận mọi tấm gương đức hạnh ở đời, mọi cống hiến ở tất cả các lĩnh vực…)
là một nét bản sắc Việt Nam.
Xin cảm ơn.
TXA.