TRẦN XUÂN AN
(biên soạn)
TIỂU SỬ BIÊN NIÊN
K̀ VĨ PHỤ CHÍNH ĐẠI THẦN
NGUYỄN VĂN TƯỜNG
(1824 – 1886)
“kẻ thù lớn nhất
của chủ nghĩa thực dân Pháp”
(tiếp theo)
http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_III05/505_nvt_phulucII.htm
35.
Trước đêm Kinh Đô Quật Khởi, 22 – 23.5
Ất dậu (04 – 05.7.1885) (*):
“Ngày ất măo, kinh thành có việc; Tôn
Thất Thuyết kèm vua vâng mệnh 3 cung, ngự giá chạy ra miền Bắc.
Trước đây, đô thống tướng Pháp là
Cô-ra-xy [De Courcy – TXA. ct.] đến Ṭa Sứ xin dâng quốc thư làm lễ vào
chầu yết, nhưng tức trước Nguyễn Văn Tường,
Tôn Thất Thuyết cùng tắt [đi không có nghi trượng đại thần – TXA. ct.]
sang Sứ quán hội thương. Thuyết thác cớ không đi.
Văn Tường
một ḿnh cùng Phạm Thận Duật đi. Tướng ấy không nghe, cố mời Thuyết;
Thuyết sợ đi, hoặc có việc ǵ xảy ra chăng; sau bèn không đi; ngày thường
cho quân Phấn Nghĩa làm tự vệ cho ḿnh, lại nghiêm sức các quân dinh kiểm
soát chỉnh đốn những đồ khí giới,
Văn Tường
với đ́nh thần cho rằng đó cũng là thanh thế để pḥng bị vậy. Đêm ngày 22
tháng ấy, Thuyết ngầm chia quân các dinh vệ làm 2 đạo …”.
(ĐNTL.CB., tập 36, Nxb. KHXH.,
1976, tr. 219 – 220; tiếp liền vào đoạn
trích tiếp theo).
----
(*) Đầu đề từng trích đoạn, người biên soạn (Trần Xuân An) đặt. Tŕnh bày
với cách thức này, tôi mạn phép khỏi phải in đậm (bold) câu tiểu đề. ----
36.
Cuộc Kinh Đô Quật Khởi, khuya 22 rạng
ngày 23.5 Ất dậu (04 – 05.7.1885):
“… Đêm ngày 22 tháng ấy, Thuyết ngầm chia
quân các dinh vệ làm 2 đạo: Một đạo sai em là Trị pḥng tham biện (nguyên
ở Pḥng, Thuyết sức về) Tôn Thất Lệ cai quản, nửa đêm sang đ̣ sông Hương
hợp cùng với bọn thủy sư đề đốc và hiệp lư đánh úp Ṭa Sứ; Thuyết cùng với
bọn Phấn Nghĩa chưởng vệ là Trần Xuân Soạn làm một đạo đánh úp Trấn B́nh
đài, doanh nam Pháp.
Nguyễn Văn Tường không biết chi hết.
Thuyết phân bổ xong, bèn ở lúc đầu trống
canh tư (tức ngày 23) bắt đầu nổ súng ở đài Trấn B́nh, tiếng kêu vang
động.
(Khi ấy Văn Tường
ở Bộ Lại đương ngủ. Binh Bộ thự tham tri là bọn Hoàng Hữu Thường nghe
tiếng súng nổ, tức th́ đến gơ cửa báo
Văn Tường
biết. Tường dậy, sợ nói:
“Nguy rồi!”, bèn vội vàng gửi tâu xin mở cửa Hiển Nhân và cửa Đại Cung,
chạy vào Tả vu, nhưng không biết làm thế nào).
Quân Pháp đóng cửa chặt, lẻn nấp đợi
sáng, nhưng từ từ nổ 1, 2 tiếng súng lớn.
(Thuyết khi ấy ở vườn sau điều khiển,
Xuân Soạn ủy người báo cho đài Trấn B́nh biết quân Pháp đă bị súng ta bắn
chết hết rồi; tiếng súng lớn bắn, tưởng là súng quân Pháp ở ngoài sông đài
Trấn B́nh bắn vậy).
Thuyết lại sai vần súng lớn lên thành chỉ
bắn Ṭa Sứ. (Cũng bị phá vỡ hai nơi). Đạo quân Tôn Thất Lệ cũng phóng súng
bắn cháy các nhà tranh gần Ṭa Sứ.
Tới lúc sáng rơ, quân thủy lục của Pháp
đều họp súng lớn, xe máy để ở trên đài và trên cột buồm tầu, bắn liền mấy
tiếng, ầm ầm như sấm và đạn bay rơi xuống, bị thương trúng chết khá nhiều,
và rơi vào các cung điện nhà cửa ở trong hoàng thành và cung thành, gián
hoặc có xuyên hoại; bọn lính Pháp lại chia nhau từng toán, đem súng tay
ngang ngược bắn phá; 2 đạo quân ở trong và ở ngoài của ta bị tan vỡ cả;
trong thành rối loạn).
Văn Tường tâu xin vua và xa giá 3
cung đi ra Khiêm cung tạm thời lánh loạn; (khi ấy
Văn Tường
đă vào bên tả vu, một lát xin mở cửa Hoà B́nh đến chỗ Thuyết điều khiển,
nh́n trông biết là thất bại rồi, lại vào Tả vu tâu xin vua xuất hành;
trong khi vội vă, chỉ soạn được cái ấn ở ngự tiền, văn lư mật sát và ấn
kiềm, 2 quả, với hạng để vàng bạc, đồ đệ đem theo); dùng hữu quân đô thống
là Hồ Văn Hiển phù xe; giờ th́n hôm ấy bắt đầu từ cửa tây nam ra.
Văn Tường vâng ư chỉ của Từ Dụ thái
hoàng thái hậu và lưu lại giảng ḥa, tức th́ đi tắt vào nhà thờ đạo Kim
Long.
Thuyết ra sau gặp giá, bèn một ḿnh hộ
chuyển đến Trường Thi (ở xă La Chử), nhân kèm đi ra ngoài bắc. Thự hiệp
biện đại học sĩ là Phạm Thận Duật, thự tham tri Trương Văn Đễ, và Trần
Xuân Soạn, Tôn Thất Lệ đều đi theo xa giá. (Khi đó tùy giá chỉ có xe loan
và lính biền binh lẻ tẻ chầu chực trên dưới ước 100 người, c̣n dư các dinh
vệ, sau khi thua trận đều tức t́m đường tản về quê quán).
Giờ ngọ, mới đến xă Văn Xá; nghỉ một
chút, Thuyết tức th́ kèm vâng mệnh vua, đêm qua t́nh h́nh vua phải ra đi
thông báo cho thiên hạ cần vương [*]; lần lượt tư cho Nam, Bắc tuân làm.
Ngày bính th́n, vua cùng với xa giá 3
cung đến tỉnh Quảng Trị; dừng nghỉ ở hành cung …”.
(ĐNTL.CB., tập 36, Nxb. KHXH.,
1976, tr. 220 – 221 [tiếp liền đoạn
trích tr. 219 – 220 phía trên]).
[*] Đây là Thông tư Cần vương, không phải là Dụ Cần vương duy nhất và
chính thức được viết và phát đi vào ngày mồng 02 tháng 6 Ất dậu
(13.7.1885).
37.
T́nh h́nh ở Huế sau khi vua Hàm Nghi và
3 cung cùng Tôn Thất Thuyết đă đi khỏi, sáng 23.5 Ất dậu (sáng 05.7.1885):
Đương lúc xa giá nhà vua đă đi rồi, quân
Pháp lên kỳ đài treo cờ hiệu tam tài; súng bắn vẫn c̣n ầm vang; quan lại,
nhân dân giành nhau t́m cửa chạy ra, rồi tự dày xéo lên nhau, chết và bị
thương rất nhiều. Quân Pháp bèn đốt hai bộ Lại và Binh (nguyên là nơi
Văn Tường và Thuyết ở đó), và thuốc
đạn khí giới bốc lên xông trời (2 ngày đêm không tắt), chia giữ các cửa
thành trong ngoài và các kho tàng, cung điện. Ngày phát gạo kho, thuê vát
những dân c̣n ở trong thành và những bọn ở ngoài lẻn vào (đều là đồ vô lại
nḥm vào toan lấy đồ đạc của quan tư c̣n bỏ sót lại), sửa đắp các trại
lính làm nơi trú đóng, và nhặt chôn, hoả táng các xác bị chết và bị nạn ở
lúc trận vong. Dưới đô thành, nơm nớp sợ chạy”.
(ĐNTL.CB., tập 36, Nxb. KHXH.,
1976, tr. 222).
38.
Theo sắc chỉ của Từ Dũ,
Nguyễn
Văn Tường giảng “hoà” với De Courcy
qua trung gian môi giới của giám mục Caspar, 23.5 Ất dậu (05.7.1885):
Văn Tường hôm ấy đă vào nhà thờ đạo
Kim Long, bèn cùng với giám mục Lộc [Caspar – TXA. ct.] thương thuyết,
cùng đến Ṭa Sứ trần t́nh, cùng bàn nỗi khổ với đô thống Pháp, lại xin
giảng ḥa. Đô thống ấy cũng nghe lời, dặn phải rước ngay vua và Tam Cung
hồi loan về triều.
Buổi chiều hôm ấy,
Văn Tường
bèn bàn với quan Pháp vào thành tạm đóng (đóng ở trong nhà Bộ Hộ).
Hôm sau (tức là ngày 24) bèn hội đồng yết
thị cho 2 nước ḥa hảo như cũ. Nhưng cho ở trong thành là không tiện, lại
bàn ra Nha Thương bạc, tạm đóng ở đấy làm việc. Bèn đem hiện t́nh giảng
ḥa phi tấu nơi hành tại và thông báo cho Nam, Bắc biết.
Lúc đó, trong đô thành nhân dân hăy c̣n
nhốn nháo sợ hăi; bọn gian đồ, phần nhiều đi cướp bóc ở ngoài mặt phố và
các nơi làng xóm. Văn Tường
nghiêm sức đi tuần ngăn cấm. Viên huyện Hương Trà tức th́ bắt được vài tên
phạm ở 2 chợ Nam Phố, An Ḥa, đem chém đầu bêu ngay để cảnh cáo, các bọn
khác nghe tin đều xẹp cả”.
(ĐNTL.CB., tập 36, Nxb. KHXH.,
1976, tr. 222 – 223).
39.
Nguyễn Văn Tường
ủy nhiệm Phạm Hữu Dụng ra Quảng Trị bàn việc với Tôn Thất Thuyết, tâu vua
biết, định rước xe vua về, ngày 24 – 25.5 Ất dậu (05 – 06. 7. 1885):
“…Văn Tường
lại ủy Binh Bộ thị lang là Phạm Hữu Dụng thân đến hành tại, đem hiện t́nh
bàn với Thuyết, tâu vua biết, định xin rước xe vua về; Hữu Dụng đến bị
Thuyết ngăn cản. (Thuyết không tâu vua, nhưng dặn Hữu Dụng về báo với
Văn Tường, phải nên đoàn kết với quân
Pháp; [Pháp – TXA. ct.] không lại lấn áp như trước, th́ mới đón xe vua
về). Hữu Dụng sợ Thuyết, bèn từ về ngay, không dám tâu vua biết …”.
(ĐNTL.CB., tập 36, Nxb. KHXH.,
1976, tr. 223).
40.
T́nh h́nh Thừa Thiên và cả nước, 27 –
29.5 Ất dậu (09 – 11.5.1885):
“Riêng một hạt phủ Thừa Thiên, v́ có
Văn Tường ở đó giảng ḥa và hay hiệu
lệnh ngăn cấm, hơi nhờ được yên; c̣n dư các hạt Nam, Bắc, th́ bọn côn đồ
tụ họp, cướp bóc nổi lên. Lương, giáo ngày thường thù nhau, sinh ra tàn
sát lẫn nhau, nơi nào cũng có. Đô thống Pháp lại yêu cầu
Văn
Tường để chiêu tập quan lại, thôi bắt
binh dân, hiểu bảo cho lương, giáo Nam, Bắc cùng yên và cấm sự xảy ra trộm
cướp, hạn đến tháng 2 [ nhị nguyệt: 2 tháng – TXA. ct.] là thanh thiếp”.
(ĐNTL.CB., tập 36, Nxb. KHXH.,
1976, tr. 223).
41.
Tập tâu Nguyễn Văn Tường
đệ gửi 3 cung về việc hồi loan (về Huế), 02.6 Ất dậu (13.7.1885):
“… Tuần phủ Quảng Trị là Trương Quang Đản
vẫn bàn cùng Lương Thành, cho thành Quảng Trị là nơi phong trần, nghĩ xin
3 cung hồi loan, đă tư cho Văn Tường
biết làm. Văn Tường được
tin báo, bèn gửi thư đến khâm sứ Pháp là Tham-bô [De Champeaux – TXA. ct.]
tŕnh bàn với đô thống Cô-ra-xy [De Courcy – TXA. ct.] thoả nghĩ phúc làm.
Ngày mồng 2 tháng ấy, tức tâu đệ trước xin ba cung hồi loan ở Khiêm cung,
cho yên ḷng dân, tịnh uỷ cho biện lư là Trương Như Cương, Tôn Thất Niêm
kính đến rước.
(Tập tâu lược rằng [*]:
“Thần là Nguyễn Văn Tường,
Tôn Thất Thuyết vâng di mệnh tiên đế cùng sung chức Phụ chính, nay mà hỏng
việc, tội thần không nói sao cho hết. Nhưng thần cũng không tưởng rằng Tôn
Thất Thuyết lừa dối ḿnh như thế; đến 3 cung tuổi già, nhà vua c̣n trẻ,
lặn lội gió bụi, chịu làm sao nổi. Huống chi kinh thành, miếu điện, lịch
đại sơn lăng, một buổi bỏ đi như không, ḷng thần tử chịu sao được sự chua
xót ấy, nên thần phải tuân theo sắc văn, đem thân lăn lộn ở đây, cùng với
quan Pháp đi lại, v́ bản tâm của thần, nguyền cùng với xă tắc mất c̣n,
không dám ĺa bỏ vậy. Nay tiếp tờ tư của Trương Quang Đản tỏ bày mọi lẽ,
đă gửi thư cho khâm sứ Pháp; cứ theo lời phúc tư th́ đô thống đại thần rất
mong rước vua về. Cũng mong giữ ǵn cung điện như cũ. Duy trong thành ấy
chửa tĩnh, cũng có người ngầm muốn nổ súng, bằng rước vua vào thành, sợ có
chưa tiện, xin hăy ngừng nghỉ ở Khiêm cung. Đô thống ấy xin phái 100 hay
200 quân ở ngoài canh chực, để giữ khỏi sự quan ngại, nhưng bọn quân ấy
nên dùng thứ ăn như trâu, dê, gà, vịt mọi thứ, ta cũng ưng cho. Thần trộm
chiểu cung điện trong thành dẫu c̣n như cũ, nhưng số quân Pháp ở đó khá
nhiều, chưa được yên lặng, xin trú ở Khiêm cung, tưởng cũng thoả thuận.
Thần nghiệp dĩ phái người kiểm soát chỉnh đốn, tịnh uỷ bọn thần là Trương
Như Cương đi Quảng Trị chực đón hỗ ṭng. Cúi xin mệnh giá hồi loan, để yên
ḷng dân”.
Cuối cùng viết niên hiệu, mượn dùng ấn
quan pḥng của khâm sứ Pháp).
Từ Dụ thái hoàng thái hậu và lưỡng cung
chuẩn như lời tâu, lấy ngày mồng 3, ất sửu, th́ hồi loan. (Phủ thần là
Trương Quang Đản đem quan quân, binh phu tỉnh ấy theo đi hộ tống). Ngày
mồng 5, đinh măo, về đến Khiêm cung …”.
(ĐNTL.CB., tập 36, Nxb. KHXH.,
1976, tr. 224 – 225).
[*] Xin xem lại: Chú thích (2), bài khảo luận “Nguyễn Văn Tường với
nhiệm vụ lịch sử sau cuộc Kinh Đô Quật Khởi (05.7.1885)”.
42.
Mật dụ của Hàm Nghi (và Tôn Thất Thuyết)
từ Tân Sở gửi về Nguyễn Văn Tường,
cùng một ngày phát Dụ Cần vương, 02.6. Ất dậu (13.6.1885):
“… Tôn Thất Thuyết c̣n giữ giá vua c̣n
đóng ở Pḥng Quảng Trị, đă kèm vua ra Lệnh dụ Thiên hạ cần vương, lại sẽ
dụ bảo Nguyễn Văn Tường và
yên ủi những người họ mạc ở trong kinh, đều một đạo, do đường dịch lộ
chuyển chạy về kinh. (Khi ấy tự Pḥng đến kinh ống trạm c̣n chuyển đệ
được). Đó đều là việc từ mồng 7 tháng này trở về trước.
Ngày mồng 2 dụ Văn Tường,
lược nói:
“Y [Cô-ra-xy (De Courcy) – TXA. ct.] thấy
ta càng khuất, y càng ngày càng lấn, khiến Triều đ́nh không c̣n mặt mũi
nào, vạn bất đắc dĩ mà ta mới phải làm cái kế bỏ thành đi ra ngoài. Nay
đại thần Tôn Thất Thuyết cùng ta cùng quanh quẩn, c̣n ngươi là phụ chính
đại thần th́ ở lại mà thương đàm, kẻ ở người đi đều lấy ḷng yêu nước lo
dân làm căn bản. Trời đất thực cũng chứng giám. Ngươi nên khéo thể tấm
thịnh t́nh của tiên hoàng đối với nước láng giềng rất có thuỷ chung và
cùng y giảng rơ về lư thế, cân nhắc về lợi hại, hết ḷng thoả hiệp [:hiệp
bàn thỏa măn đôi bên, không phải “thỏa hiệp vô nguyên tắc” – TXA. ct.],
phàm những khoản ǵ bách thiết, chung nhau bàn đổi, cốt khiến cho 2 nước
như anh em, vinh nhục cùng quan hệ, vui lo cùng chung nhau mười phần chân
thành, không c̣n dùng đến uy thuật. Lúc này ta mệnh cho hồi loan, trên để
phụng dưỡng ba cung, dưới để yên ḷng thần dân, khanh cùng với Tôn Thất
Thuyết trung trinh chói lọi, muôn thuở cùng sáng, những phường nịnh tử
gian phu, đều phải lặn h́nh giấu bóng. Nam triều ta há chẳng hân hạnh ư,
nước Đại Pháp chắc cũng vui vẻ mà cùng giữ lấy cường thịnh vậy.
Nếu không như thế th́ các miếu xă lăng
tẩm và các vương công không kịp đi theo ấy th́ hết thảy uỷ cho khanh. Ta
duy có chọn đất lánh ở, sợ trời vui trời, rường cột cương thường, cả nước
cùng thế, không đâu không phải là Triều đ́nh và không phải là tôi con vậy.
Trẫm quyết không cùng với họ tranh được thua vậy.
T́nh thế ví lại không thôi, trẫm nguyện
phái thêm cán viên, lấy đường đi khắp các nơi, nghiêm sắc cho Ninh B́nh
trở về phía bắc, bao nhiêu quan tỉnh, phủ, huyện đều để ấn lại mà đi,
người nào như có trung nghĩa tài lược không kể quan hay dân, đều cho được
tiện nghi làm việc [nhân dân, sĩ phu khởi nghĩa – TXA. ct.], cốt không phụ
tấm ḷng tốt của triều đ́nh dưỡng dục, tác thành, yên được bóng thiêng
liêng ở trời của liệt thánh, và đáp phó được nguyện vọng [khởi nghĩa chống
Pháp – TXA. ct.] tha thiết của thần dân trong nước. Khanh nên nghĩ cho kỹ
nhé, có muốn nên tâu đối, th́ gởi theo đường trạm chờ xét cũng chẳng hại
ǵ””.
(ĐNTL.CB., tập 36, Nxb. KHXH.,
1976, tr. 225 – 226).
43.
Mật dụ của Hàm Nghi (và Tôn Thất Thuyết)
từ Tân Sở gửi về hoàng tộc, ngày 07.5 Ất dậu (18.7.1885):
“Ngày mồng 7, dụ các người trong họ, đại
lược nói:
“Dụ Thọ Xuân vương, phụ chính Hoài Đức
công và các bọn hoàng phiên, công chúa nghĩ coi: Nước Nam ta nhiều lần bị
kẻ khác bức hiếp nhiều khoản, phàm có tai mắt khí huyết không ai là không
uất ức buồn rầu, chẳng riêng người trong họ ta mà thôi. Trẫm vâng di mệnh
của tiên quân, và các vương công phụ thần cùng suy tôn lên quyền giữ việc
nước. Phàm có trăm điều đều duy kiến nghị, phải ấy th́ theo. Trẫm tuổi
trẻ, kiến thức chưa rộng, dám đâu chuyên trái việc ǵ, cho nên hễ khi tiếp
được thư của nước Đại Pháp gửi đến khoản ǵ, nếu quá lăng nhục và yêu sách
quá đáng, nhân t́nh không thể chịu được, mật nghe vương công và các phụ
chính khuyên bảo, không đâu là không cưỡng tự đau đớn nín náu, chịu theo
êm việc, v́ muốn bảo toàn xă tắc, để họ mạc lâu dài hưởng tôn quư giàu
sang vậy. Không ngờ sứ Pháp ngang ngược ngày thêm, không c̣n được chút
quốc thể, cúi xuống đất, ngửa lên trời, xiết bao hổ thẹn, vạn bất đắc dĩ
mà phải làm ra việc này; quay nh́n nơi lăng miếu và các bậc ư thân, thực
không biết bao nhiêu là tưởng nhớ, chả biết trong tôn tộc từng có tin đến
sự lo xuôi nghĩ ngược của ta không? Nay đă có phụ chính huân thần là
Nguyễn khanh [tức là Nguyễn Văn Tường
– TXA. ct.] ở lại giảng nói, che chở nhiều việc, hơi được yên ổn; huân
thần tâm sự như thế, cáng đáng như thế, thực là đau khổ quá chừng. Nhân
vật nước ta, những người trung nghĩa từ xưa, tưởng không hơn được. Trẫm
cũng dụ cho đại thần ấy hết ḷng bàn tính công việc, tâu chờ quyết định.
Vương công đều là cốt nhục chí thân, đều nên thương ta khổ tâm, thể tất ta
vô cùng. Phàm việc ǵ cùng với Nguyễn khanh
châm chước thoả đáng, cốt không trái với cương thường của trời đất. Nên
được nền b́nh trị lâu dài của quốc gia, ngơ hầu để được tiếng thơm muôn
đời, thế là lành lắm, tốt lắm. Trời đất dài lâu, gặp nhau có hẹn. Nước nhà
suy thịnh, gặp hội đổi thay, càng nên trân trọng di dưỡng, để yên tấm ḷng
xa của người tuổi trẻ. C̣n ra sẽ uỷ cho Nguyễn
khanh sẽ v́ ư thân điều
đ́nh cho thoả đáng, vụ được như thường. Phàm người họ ta, cần tin lời ta
nhé, thế th́ ta mới yên ḷng””.
(ĐNTL.CB., tập 36, Nxb. KHXH.,
1976, tr. 226 – 228).
44.
Thọ Xuân vương Miên Định làm giám quốc,
ngày 08.6 Ất dậu (19.7.1885):
“Ư chỉ 3 cung chuẩn cho Thọ Xuân vương là
Miên Định quyền coi việc nước; phàm việc tâu suốt 3 cung, xin chỉ tuân
hành …”.
(ĐNTL.CB., tập 36, Nxb. KHXH.,
1976, tr. 229).
45.
Dụ của Từ Dũ, tháng 6 Ất dậu (tháng
7.1885):
“… Trong khi vội vă, phụ chính đại thần
là Nguyễn Văn Tường, tức
th́ đem lăo cung và xe vua ra thành tạm lánh. Ta nhân dặn thầm đại thần ấy
rằng: “Lui cùng với quan Pháp ở trong bàn tính; may được nghe lời và sớm
tan quân” …” [*].
(ĐNTL.CB., tập 36, Nxb. KHXH.,
1976, tr. 230).
[*] Trích tiểu sử Nguyễn Nhược thị Bích:
“… Năm 36, Dực Tôn Anh hoàng đế lên chầu trời, vâng ư chỉ 2 cung, sắc dụ
đều cho tay thị ấy làm. Năm Hàm Nghi thứ nhất, tháng 5, kinh thành có
việc, đi theo 2 cung đi Quảng Trị có bài hát quốc âm Xe vua vào đất Thục
[Đường Minh Hoàng tránh loạn đi vào Thục – VSH. chú thích]. Ngày 2 xe cùng
về, các sắc phụng chiếu thư, cầm bút viết xong ngay, việc ǵ cũng xứng
chỉ. Năm Thành Thái thứ 4, kính vâng từ chỉ, nghĩ công khó nhọc, tấn phong
tam giai Lễ tần. Năm Duy Tân thứ 3, tháng 11, thị chết, thọ 80 tuổi” (Đại
Nam liệt truyện, tập 3, bản dịch Viện Sử học, Nxb. Thuận Hóa, 1993, tr.
78). TXA.
46.
Bản tấu của
Nguyễn Văn Tường
phúc tâu lên Từ Dũ thái hoàng thái hậu, khoảng từ 16 – 19.6 Ất dậu (tháng
8.1885):
“Ngày 23 tháng trước, có việc xảy ra.
Chiều hôm ấy, thần bàn với quân Pháp vào thành tạm đóng. Ngày 24, hội đồng
quan Pháp, yết thị hai nước đă ḥa hảo như xưa, quan lại binh dân đều về
như cũ.
Từ sau đi, thần hỏi các nơi ở ngoài: từ
ngày 23, 24 trở đi, những xă ở gần kinh thành, gián hoặc có bọn cướp bóc
nổi lên; đến ngày 26, thần sức cho các viên huyện, rọâng đi tuần trập, bắt
được 2, 3 tên phạm, đem chính pháp ngay. Từ đấy đi, bọn côn đồ sợ có uy
lệnh của Triều đ́nh, dần phải liễm chấp; hiện nay dần được ninh thiếp, dân
được yên ở; tin tức các tỉnh Nam, Bắc, gần đây đều được cùng thông, cũng
không có việc ǵ khác. Duy [:chỉ mỗi một; chỉ riêng một – TXA. ct.] có Lê
Trung Đ́nh tỉnh Quảng Ngăi nổi loạn, rồi cũng yên tĩnh.
Binh dân trong ngoài kinh thành bị
thương, chết rất nhiều; người bị thương đều đă lục tục về quê, c̣n người
chết th́ quan binh Pháp hoặc đốt đi, hoặc chôn cất, nay đă sạch sẽ.
Đến như điều khoản nghị hoà, quan Pháp
bàn nói: Chờ khi rước hoàng thượng hồi loan, giao trả thành tŕ, mới có
thể bàn định được.
Lại như quan viên trong ngoài, gián hoặc
có người tài, có người không tài, vốn nên cất, bỏ. Nhưng nay ngôi lớn
trong kinh chưa định, hiệu lệnh chưa thống nhất, sự thưởng phạt chưa nên
vội ra, xin chờ sau sẽ làm. Và khởi dùng người cũ là việc cần kíp hiện
nay, là duy Đ́nh Túc, tuổi gần 80, đi đứng thế khó khoẻ mạnh, Hoàng Tá
Viêm, Vũ Trọng B́nh lại bị bọn kia ngờ ghét, cũng khó giảng giải. Việc
nhiều nguời ít, không biết làm sao, thần chỉ biết hết ḷng hết sức thôi.
(Việc Lê Trung Đ́nh chép ở dưới)”.
(ĐNTL.CB., tập 36, Nxb. KHXH.,
1976, tr. 233 – 234).
47.
Nguyễn Văn Tường
đấu tranh với De Courcy, De Champeaux, Nguyễn Hữu Độ về vấn đề bố trí quan
chức ở Bắc ḱ, cuối tháng 6 Ất dậu (7.1885):
“Lấy quyền tổng đốc
Hà – Ninh là Nguyễn Hữu Độ thăng thự Vũ Hiển điện đại học sĩ, sung Cơ mật
viện đại thần, vẫn sung Bắc ḱ kinh lược đại sứ.
Khi ấy Hữu Độ đă
trở về Hà Nội, đô thống Pháp là Cô-ra-xy [De Courcy – TXA. ct.], khâm sứ
là Tham-bô [De Champeaux – TXA. ct.] bàn nói: “Hiện nay Bắc ḱ lắm việc,
Hữu Độ ở đấy hiểu nhiều, nên trao cho điện hàm, sung viện chức, và vẫn
sung chức sứ ấy; phàm đốc, phủ, bố, án, ở các tỉnh Bắc ḱ cho đến các phủ
huyện, nếu nơi nào có khuyết, cho do Nha Kinh lược sứ chọn tâu, chờ chỉ
định đoạt”. Nhiếp chính Miên Định, phụ chính
Nguyễn Văn Tường
phúc tâu [lên Từ Dũ và 2 cung – TXA. ct.]: Việc đó là tạm thời, nghĩ nên
tạm nghe ư đó mà làm. Văn Tường nhân phụng dụ [của Từ Dũ –
TXA. ct.] nói: Trải bày lư do. Lại nói: Do ngươi, tuy việc thoả bàn vụ hợp
thời nghi, để xứng với lời khen của người mới được. V́ ư ám chỉ chê Hữu Độ
nương tựa vào thế quan Pháp, để được ngôi cao, mà không phải tự bản ư do
mệnh lệnh của Triều đ́nh vậy.
(Trước đây,
Nguyễn Văn Tường cùng Tôn Thất Thuyết cho rằng Hữu Độ ở Hà Nội phần
nhiều hay nịnh hót, quan Pháp rất được vui ḷng; Cơ mật viện nhiều lần đem
việc tâu lên, chuẩn cho khiển giáng hay triệu về, Hữu Độ đều được quan
Pháp che chở, rất là đáng ghét.
Ngày tháng 7 năm ngoái, khuyên Bùi Hữu
Tạo lấy việc xây sinh từ [của Nguyễn Hữu Độ – TXA. ct.] để tâu hặc, v́
muốn nhân đó để đẩy Hữu Độ đến tội. Hữu Độ chứa sự bất b́nh đă lâu. Gần
đây, đô thống Pháp từ Bắc về Sứ quán, tức th́ trước mời
Văn
Tường và Thuyết đến họp. Thuyết ngờ
sợ cho là hẳn Hữu Độ đă có ngầm chỉ thế nào, nên mới như thế, cho nên sau
không chịu đi; bèn gây hận; đến đây [Hữu Độ – TXA. ct.] về kinh, [ y –
TXA. ct.] lại đến Sứ quán, rồi về nhà riêng [của Hữu Độ tại Huế – TXA.
ct.], uỷ đón nhiếp chính Thọ Xuân vương Miên Định tới bàn với
Văn Tường; và [Hữu Độ – TXA. ct.]
gièm [rằng – TXA. ct.], không bàn với Thọ Xuân vương th́ đừng đi. Kịp khi
Hữu Độ tới Sở Thương bạc mà
Văn Tường
ở đó, hai người nói chuyện với nhau, đă hơi có ư khiếm ḥa [:thiếu ḥa khí
– TXA. ct.]; Văn Tường
phụng dụ này, lời lẽ lại có ư chê ngầm theo kiểu b́ lí xuân thu [: bề
ngoài với lí lẽ khác nhau như mùa xuân với mùa thu – TXA. ct.]. Hữu Độ
tiếp dụ, giận lắm, nhân đó càng thêm để ḷng).
(ĐNTL.CB., tập 36, Nxb. KHXH.,
1976, tr. 236 – 237).
48.
Vụ Lê Trung Đ́nh ở Quảng Ngăi, đầu tháng
7 Ất dậu (tháng 8.1885):
“… B́nh Sơn tả vệ hương binh chánh quản
là cử nhân Lê Trung Đ́nh, hữu phó quản là bọn tú tài Nguyễn Tự Tân, Vũ Hội
[thuộc vơ hội hương binh? – TXA. ct.], và thương biện Nguyễn Văn Hoành cho
rằng, xe vua đă ra, lại nghe có Dụ Cần vương, muốn nhân đó dấy quân, tức
th́ tới tỉnh xin cấp khí giới, lương xướng. Tỉnh thần cho rằng lính hương
binh chi canh giữ nơi làng xóm, không ví với lính tỉnh được, không dám tự
tiện cấp, đợi chạy giấy mời những quan viên tại quán [quan hưu trí – TXA.
ct.] bàn nghĩ sẽ làm. Bọn Đ́nh, Tân bèn chia phát binh phu làm 3 đạo, tất
cả hơn 3.000 tên. Trước ngày mồng 2 tháng này, tiến đến tỉnh thành, hiệp
quản Trần Tu, thành thủ úy là Nguyễn Côn mở cửa nội ứng, bọn ấy sấn vào
tỉnh thành, đem hai viên bố, án ra thành giam trói, thu lấy ấn triện, binh
trượng, tiền lương, buông tha tù phạm, trước chém một tên suất đội, 2 tên
dân đạo, cất nguyên Tuy Lư vương Miên Trinh (nguyên được giáng tước công,
an trí ở trong tỉnh thành này) làm phụ chính quốc vương. Miên Trinh không
theo, giả làm có bệnh nằm lỳ không dậy. Bọn ấy bèn đặt những danh chức
ngụy là thống đốc, tham tán, đề đốc, lănh binh, đốt nhà và giết chết dân
giáo, làm việc ngang ngược không kiêng nể ai. Quyền tiễu phủ sứ ở Sơn
pḥng Nghĩa Định là Nguyễn Thân báo với tổng đốc B́nh – Phú là Lê Thận
(Thận đă ủy cho án sát B́nh Định là Lê Duy Cung đi cùng Sơn pḥng họp
làm), ủy cho Đinh Hội đem hơn 900 biền binh tiến tiễu. Ngày mồng 5 tháng
ấy, đến tỉnh chia quân sấn vào thu phục tỉnh thành và ấn triện bố, án, bắt
sống được Trung Đ́nh, và giết được bọn Tự Tân tất cả 7 tên, c̣n dư đều
trốn chạy, bèn đưa 2 viên phiên, niết về dinh, tiễu phủ sứ ấy tức th́ ủy
cho mời các quan viên ở quán (nguyên Lễ bộ thượng thư là Đỗ Đệ, thự đốc
B́nh – Phú là Nguyễn Trọng Biện [Nguyễn Hiệp – TXA. ct.], tuần phủ Nam –
Ngăi là Đoàn Nhượng, biện lư Công bộ là Vũ Duy Tĩnh (nguyên cũ là Văn
Thanh)) họp bàn, và tư bàn với tuần phủ Nam – Ngăi là Nguyễn Ngoạn, quyền
lưu 2 phiên, niết nhận ấn làm việc, để chờ mẹânh Triều đ́nh, và Trung
Đ́nh, chém ngay; rồi người ta báo cho Hộ bộ lang trung biết. […].
Đến đây Cơ mật viện cho rằng Sơn pḥng ấy
sớm làm tắt được ng̣i cơ biến, nghĩ chuẩn theo đặc cách thưởng cất cho
Đinh Hội, Nguyễn Thân để tỏ sự khuyến khích. C̣n bọn dư đảng nguyên đi
theo Trung Đ́nh đă tan về th́ miễn khỏi cứu xét” [*].
(ĐNTL.CB., tập 36, Nxb. KHXH.,
1976, tr. 238 – 239).
[*] Vụ Quảng Ngăi (Lê Trung Đ́nh) và vụ B́nh Định (Đào Doăn Địch) khác
nhau về “ngọn cờ khởi nghĩa”. Lê Trung Đ́nh tôn phù Tuy Lư vương Miên
Trinh, một nhà thơ hoàng tộc chủ “ḥa”, câu kết với Pháp thời Hiệp Ḥa,
vốn bị đày vào Quảng Ngăi (mặc dù Miên Trinh từ chối); do đó Nguyễn Văn
Tường đánh giá đấy là cuộc “nổi loạn” duy nhất (ĐNTL.CB, tập 36, sđd.,
tr. 233 – 234). Đào Doăn Địch chỉ thuần hưởng ứng Dụ Cần vương, “b́nh Tây
sát tả” (đánh Pháp và đánh bọn dữu dân trong giáo dân, vốn đích thực là
tay sai của thực dân), nên ngầm được ủng hộ (mặc dù De Champeaux thúc giục
đánh dẹp), và cuối cùng là được “rộng tha”. Xin xem lại: bài “Nguyễn
Văn Tường với nhiệm vụ lịch sử sau cuộc Kinh Đô Quật Khởi, 05.7.1885”.
TXA.
49.
Vụ B́nh Định, tháng 7 Ất dậu
(tháng 8.1885):
“… Tháng trước, thân hào tỉnh ấy cũng
nghe hành tại có Dụ Cần vương, mưu dấy quân, bèn họp đem những lính kinh
tan về và lính dơng ở dân đốt phá nhà đạo, d́m giết giáo dân, rồi đem binh
dân ước hơn vạn người, quanh tới tỉnh thành, yêu cầu cấp cho khí giới (đă
bách giám đốc thần là Lê Thận lại cho về dinh), ngụy đặt những danh mục đề
đốc, tham tán, lại đi khắp trong hạt giết dân giáo, mộ lính dơng, nói phao
lên tiến đánh quân Pháp ở cửa Thi Nại. Khâm sứ Pháp là Tham-bô bàn phái
cho khâm sai đă mệnh,
cho Binh bộ tham tri Hoàng Hữu Thường sung phái ngồi tầu thủy Pháp chạy
đi. Lúc đó v́ đường ngăn trở, phải trở về. Khâm sứ Pháp lại bàn tục phái
đổi sai thị lang Bộ Lễ là Ngô Trọng Tố (lănh bố chính sứ tỉnh ấy về trước,
t́nh thế đă am hiểu) rồi v́ đường dịch lộ Quảng Ngăi không đi được, lại
sai lănh bố chánh sứ Quảng Nam là Bùi Tiến Tiên (nhưng lấy án sát Hà Thúc
Quán quyền sung bố chánh sứ Quảng Nam, Hồng lô tự khanh về nuôi cha mẹ, là
Nguyễn Duy Hiệu sung làm án sát sứ). Thự thống chế Ngô Tất Ninh sung chánh
phó khâm sai quản đem quan binh 2 tỉnh Nam – Ngăi 700 tên đi ngay đến, họp
làm, đều nhân đường ngăn trở chưa đi được.
Đến đây thự tổng đốc là Lê Thận tâu nói:
“Đă họp văn thân quan viên trong hạt ấy hiểu dụ. Bọn ấy đă tản về, xin nên
rộng tha, cho yên sự phản trắc …” […].
“… […] Nếu c̣n giữ thói mê, do các quan
đô thống, khâm sai đem đại đội quan binh, không kể lương hay giáo, cũng
phải đau ḷng đánh dẹp…” ”.
(ĐNTL.CB., tập 36, Nxb. KHXH.,
1976, tr. 241 – 242).
50.
Dụ của Từ Dũ và 2 cung, đánh giá cao
cuộc Kinh Đô Quật Khởi, tháng 7 Ất dậu (cuối tháng 8 bước sang đầu tháng
9.1885):
“… Từ điều ước tái định [Patenôtre – TXA.
ct.] đă được phân minh, khiến nước Pháp trước tự bại ḥa gây biến, th́
phàm ai ở đất vua, cũng đều thù ghét [giặc Pháp – TXA. ct.], ai bảo là
không nên. Không ǵ bằng cuộc nghĩa cử đêm 22 tháng 5 năm nay …”.
(ĐNTL.CB., tập 36, Nxb. KHXH.,
1976, cuối tr. 244).
51.
Dụ của 3 cung về vấn đề lương, giáo phục
thù, ít hôm trước ngày Nguyễn Văn Tường
bị bắt, cuối tháng 7 Ất dậu (đầu tháng 9.1885):
“… Đến đây lại lấy hai bên b́nh, giáo c̣n
chưa yên, lại dụ thêm rằng:
“B́nh, giáo dù có khác lỗi, nhưng đều là
con đỏ của Triều đ́nh, không nên chia rẽ khác nhau. Gần đây, có nhiều việc
giống nhau và khác nhau. Người làm dân lương ghét v́ không đồng đạo [không
cùng đạo thờ kính anh hùng dân tộc, thờ kính tổ tiên lâu đời của người
Việt Nam – TXA. ct.] mà trong ḷng sinh nóng lạnh. Người làm dân giáo, cậy
thế [thực dân Pháp, cố đạo Pháp – TXA. ct.] lấn át, mà t́nh ruột thịt đem
đặt ra ngoài da. Hai đằng ghét nhau th́ hai đằng hẳn thù nhau, th́ thế cố
nhiên như thế. Nhưng xét kỹ ra th́ đầu đuôi cũng tự người đầu mục không
khéo xử trí cho nên nỗi ấy. Ôi! Nhà nước dựng nên quan tư mục, cốt để trị
dân. Làm sư đạo của dân một địa phương, phải nên giữ ḷng minh chính. Hoặc
có kẻ bị ghét quá đáng, một khi kiện cáo, gia thêm nạt nộ mà dân giáo uất
ức không bày tỏ được. Hoặc sợ hơi nóng bốc lên, gặp có sự lăng ngược, một
chiều nín náu, mà ẩn t́nh của người dân lương không bày được. Làm giám
linh mục ấy, trách nhiệm giảng giáo, phải nên giữ ḷng công b́nh. B́nh dân
hoặc có kẻ trốn tránh dao thuế, mà chạy vào nhà giáo ấy, hoặc có kẻ tranh
chiếm ruộng đất mà nhờ thế ấy, đều bao dung cả. Đến nỗi, có kẻ cậy thế mà
bức bách người, hoặc có kẻ khinh thường pháp luật mà không đoái, đều không
phải là sở ư của Thiên Chúa dạy dân. Kẻ b́nh dân kia sao không nghĩ cùng ở
đất vua, đều là dân vua, giáo dân b́nh nhật binh đao thuế khóa cùng với
lương dân cùng thế. Gián hoặc bức hiếp b́nh dân v́ lẽ ǵ, sao không tới
địa phương quan mà tố cáo, mà dám hại nhau, ngược đăi nhau ngang trái như
thế, đối với pháp luật thực khó dung. Giáo dân ấy sao chẳng nghĩ sinh ở
đời này, tam giáo cửu lưu, đều có đạo cả, nào ai có cấm đâu mà bèn mượn
thế lấn người, đến nỗi chứa bao thù oán, ḷng sao nỡ thế. Ôi! Giáo đă
không dung được lương, th́ lương cũng không cam tâm chịu thua giáo, phải
đến tranh nhau, khiến cho trong chốn làng xóm, không lấy ơn lễ ở với nhau
mà lại trông nhau như thù nghịch. Giết người, đốt nhà, tội có nhỏ đâu, mà
lại đem thêm thử pháp luật như việc gần đây xảy ra ở B́nh Định và Quảng
Ngăi, rất là quái gở, đáng giận, cần nên tỏ rơ điển h́nh để răn bảo. Nhưng
nghĩ bọn ngươi một khi giận dỗi, dám làm điều trái đạo, rồi hay cải hối
được; nếu chẳng uốn nắn cầu toàn, hẳn đến ngọc đá đều cháy; trong ḷng ta
thực không nỡ thế, đă chuẩn gia ơn cho miễn sự tra xét một lần.
Từ này nên hậu t́nh ḥa hảo, không nên
ghen ghét lẫn nhau. Làm người coi địa phương phải ngay sáng để xướng xuất,
mà sự oan uổng cần được thân lư; làm giám linh mục phải công bằng để dạy
dỗ, mà sự ghen ghét phải bỏ đi; khiến cho cùng thuận, cùng giúp, cùng phù
tŕ nhau, hai bên hoà thuận th́ c̣n ǵ vui bằng. Nếu không khéo khu xử,
đều tự thù hằn nhau, th́ đều có tội để xử. Địa phương quan, chiếu theo lệ
nịch chức nghiêm trị. Giám linh mục, tư sang nước Pháp nghĩ xử. Đều nên
kính cẩn nhé! Thông lục đều tuân”. …”.
(ĐNTL.CB., tập 36, Nxb. KHXH.,
1976, tr. 245 – 246).
52.
Bản án của thực dân Pháp về
Nguyễn Văn Tường, do De Courcy, De
Champeaux cáo thị, ngày 27.7 Ất dậu (05.9.1885):
“Đô thống Đại Pháp là Cô-ra-xy [De Courcy
– TXA. ct.] bắt thái phó, Cần Chánh điện đại học sĩ, lănh Lại bộ thượng
thư, kiêm sung Cơ mật viện đại thần, Ḱ Vĩ quận công, là
Nguyễn
Văn Tường xuống tàu thủy chạy đi Gia
Định.
Cứ theo lời cáo thị của khâm sứ Tham-bô
[De Champeaux – TXA. ct.] nói: Văn Tường
từng đă chống cự nước ấy [nước Pháp – TXA. ct.] thực đă nhiều năm. Từ khi
cùng Tôn Thất Thuyết sung làm phụ chánh, chỉn [: vốn – TXA. ct.] lại đổng
suất quan quân nổi dậy công kích quan binh nước ấy [nước Pháp – TXA.
ct.]; và Văn Tường do đô
thống ấy xin [chính phủ Pháp – TXA. ct.] cho hai tháng [nhằm để – TXA.
ct.] lo liệu việc nước cùng Bắc Kỳ cùng được lặng yên vô sự; [ḱ thực –
TXA. ct.] đến ngày 27 tháng ấy hết hạn, mà các tỉnh Tả kỳ về phía nam, có
nhiều nơi nổi quân chém giết dân giáo. Đến đây đô thống ấy định án, ƯNG
[:nên ; phải – TXA. ct.] kết tội lưu.
Hôm ấy chở đem Văn Tường đến cửa biển Thuận An. Buổi chiều Nguyễn Hữu Độ, Phan
Đ́nh B́nh đi tàu thủy Pháp cũng về đến cửa biển ấy.
(Thuyền Pháp chở Văn Tường đến Gia Định, sau chở gồm cả Phạm Thận Duật, Lê Đính đem
về nước ấy [thuộc địa Tahiti – TXA. ct.]; Thận Duật trong khi đi đường bị
ốm chết ở trong tầu, buông xác xuống biển) …”.
(ĐNTL.CB., tập 36, Nxb. KHXH.,
1976, tr. 247).