TRẦN XUÂN AN
(biên soạn)
TIỂU SỬ BIÊN NIÊN
K̀ VĨ PHỤ CHÍNH ĐẠI THẦN
NGUYỄN VĂN TƯỜNG
(1824 – 1886)
“kẻ thù lớn nhất
của chủ nghĩa thực dân Pháp”
(tiếp theo)
http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_III05/505_nvt_phulucII.htm
53.
Trích phàm lệ của kỉ đệ lục: VIẾT SỬ
THEO TIÊU CHÍ NGƯỢC:
“Phàm lệ phụ biên ở
kỷ đệ ngũ, trong đó có một điều chép rơ: từ ngày 23 tháng 5 năm Hàm Nghi
nguyên niên, sau khi kinh thành có việc, đến ngày 10 tháng 8 trở về
trước, xe vua dời đi, trong, ngoài không hệ thuộc được, và tự ngày 10
tháng ấy trở về sau đến cuối tháng 9, Cảnh tông Thuần hoàng đế [vua ngụy
Đồng Khánh – TXA. ct.] ta tuy đă nối ngôi, nhưng tuyên bố dụ bảo, sợ
chưa biết được khắp, niên hiệu vẫn c̣n chép là Hàm Nghi; về việc Nam –
Bắc có vâng theo dụ của vua Hàm Nghi, mà khởi việc cần vương th́ đều hăy
chép làm “khởi binh”, để có cớ mà nói. C̣n tự mồng 1 tháng 10 năm Đồng
Khánh Ất dậu trở về sau, ngôi lớn định đă lâu, dụ bảo chắc đă biết khắp
cả, mà c̣n làm liều, th́ ở kỷ đệ lục kỷ sẽ lại chép là nghịch; đă được
chuẩn cho lục ra để chép vào.
Nay hai tháng 8 và 9
năm Hàm Nghi nguyên niên [tức là tháng 8 và tháng 9 âm lịch, năm Ất dậu
(1885) – TXA. ct.], là c̣n thuộc vào phận tháng của kỷ ấy, cũng vẫn theo
thế chép là khởi binh; c̣n từ mồng 1 tháng 10, là năm Đồng Khánh Ất dậu
trở về sau, th́ mới chép là nghịch”.
(ĐNTL.CB., kỉ đệ lục – kỉ bị “bảo hộ”,
tập 37, Nxb. KHXH., 1977, tr. 15 – 16).
54.
Quốc thư gửi Chính phủ Pháp của ngụy
triều Đồng Khánh, tháng 8 Ất dậu (tháng 9.1885):
“… Quyền thần là
Nguyễn Văn Tường, Tôn
Thất Thuyết […].Ngày 23 tháng 5 năm nay, kinh thành thất thủ, xe tiên đế
dời đi, hai người ấy thực là căn nguyên của tai vạ […]”.
(ĐNTL.CB., kỉ đệ lục – kỉ bị “bảo hộ”,
tập 37, Nxb. KHXH., 1977, tr. 33).
55.
Bản án chung thẩm của ngụy triều Đồng
Khánh (có chữ kí của De Courcy) về Nguyễn Văn Tường
và 3 thành viên khác của nhóm chủ chiến Triều đ́nh Huế, tháng 8 Ất dậu (tháng
9.1885):
“Tôn nhân phủ và
đ́nh thần dâng sớ tâu bày tội trạng của
Nguyễn Văn Tường
và Tôn Thất Thuyết, xin tước hết quan tước và tịch thu gia sản; tham tri
Trương Văn Đễ đă quá cố, và chưởng vệ Trần Xuân Soạn, đều là bè đảng làm
loạn, cũng tước cả quan chức. Trong bọn ấy, th́ Tôn Thất Thuyết, Trần
Xuân Soạn, xin do quan địa phương xét bắt bằng được và chém ngay, để tỏ
rơ hiến pháp trong nước. Vua nghe theo”.
(ĐNTL.CB., tập 37, Nxb. KHXH.,
1977, tr. 35).
56.
Dụ của Đồng Khánh (do khâm sứ thực dân
Hector, Nguyễn Hữu Độ hợp soạn, Đồng Khánh chỉ sửa chữa lại), niêm yết
khắp các tỉnh từ Quảng Nam trở vào, tháng 02 Bính tuất (tháng 3.1886):
“… Duy trẫm tin là
các sĩ phu, thực t́nh là nhận nhầm, chứ không có ḷng làm loạn; Triều
đ́nh đă đem đầu mối họa loạn, là tự
Nguyễn Văn Tường,
Tôn Thất Thuyết gây ra, nói rơ ràng với quan Đại Pháp, đă tin không ngờ,
để cho Triều đ́nh ta phải xử trí ngay, cho lương, giáo đều được yên ổn
…”.
(ĐNTL.CB., tập 37, Nxb. KHXH.,
1977, tr. 134).
57.
Cáo thị của ngụy triều Đồng Khánh (do
hai khâm sai Phan Liêm, Phạm Phú Lâm hợp soạn, Đồng Khánh tự sửa định),
niêm yết khắp các tỉnh từ Quảng Nam trở vào, tháng 02 Bính tuất (tháng
3.1886):
“… Nay Lê Thuyết [Tôn
Thất Thuyết – TXA. ct.], trốn tránh ở rừng gập ghềnh, một thân tuy nhỏ,
mà coi đất trời như c̣n hẹp; Nguyễn Văn Tường
th́ đă bị đi đày; tức là trời trừ kẻ tật ác; huống chi tai ách 10 đời, [mà
Quang Vũ trung hưng – VSH. ct.]; con của Tấn công có 9 người, [mà c̣n
được Tùng Nhĩ – VSH. ct.]; xem ư trời cũng có thể biết. Trẫm cùng bọn
ngươi, phải nên hết sức lo toan khôi phục lại, để lại thấy được cảnh
tượng thái b́nh như xưa. Không ngờ bọn ngươi [tức là các sĩ phu, nhân
dân – TXA. ct.] theo ư làm liều, hoặc bức đuổi quan tỉnh, hoặc đốt phá
phủ, huyện, kháng cự mệnh lệnh Triều đ́nh, cam tâm hết ḷng trung với kẻ
thù [tức là Hàm Nghi, Nguyễn Văn Tường,
Tôn Thất Thuyết, nhưng theo mạch văn, th́ chỉ nhắm đến hai phụ chính –
TXA. ct.], từ Hải Vân trở vào nam, không chỗ nào là không loạn [khởi
nghĩa – TXA. ct.], rất đáng quái lạ; sao không xem châu Hoan, châu Diễn,
Quảng B́nh, Quảng Trị (*), mượn tiếng là xướng nghĩa, cần vương, đều đem
thân bón cho đồng cỏ, mười nhà th́ chín nhà hết sạch; c̣n những kẻ lọt
lưới, th́ bị mưa độc, khí núi, liền hóa làm giống sâu ở cát, tức như
tiến sĩ Nguyễn Xuân Ôn là thủ xướng, phải giải quân trốn xa, thám hoa
Nguyễn Đức Đạt phải đến tỉnh đầu thú; đă thấy được đại khái …”.
(ĐNTL.CB., tập 37, Nxb. KHXH.,
1977, tr. 138 – 139).
(*) Xem Jabouille, bài “Một trang viết về lịch sử
tỉnh Quảng Trị: tháng 9.1885”, Những người bạn cố đô Huế (BAVH., 1923),
bản dịch, tập X, Nxb. Thuận Hoá, 2002, tr. 434, 439… Xin đối chiếu với
ĐNTL.CB., tập 37, sđd., tr. 26 – 27, tr. 39 – 40, tr. 54, tr. 60, tr.
124 – 125, tr. 130, tr. 162 – 164, tr. 176 – 177, tr. 178 – 180, tr.
186, tr. 192 – 193.
58. Theo lệnh Pháp, ngụy triều Đồng
Khánh và Nguyễn Hữu Độ, cùng với Phan Liêm, Phạm Phú Lâm tuyên truyền
bôi nhọ nhằm triệt hạ uy tín Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất
Thuyết và nhóm chủ chiến, để dập tắt phong trào Cần vương, nên đă bị sĩ
phu, nhân dân phản ứng, tháng 11 Bính tuất (tháng 12.1886):
“Phó khâm sai Tả trực kỳ là Phạm Phú Lâm chịu tội.
Phú Lâm đến Đà Nẵng, được 10 ngày dâng tập tâu:
“Bọn giặc [quân Cần vương, ngụy triều Đồng Khánh gọi là “giặc”!!! – TXA.
ct.] đưa giấy bắt họ thân và bắt được vợ y, làm đủ h́nh ác; xin tự trói
về kinh đợi tội”; lại lục tư cho Viện Cơ mật, nói: “Giặc hiện bắt xă
thôn ấy chỉ dẫn phần mộ tổ tiên của y, nếu để chậm, tất đến mắc vạ; bèn
không đợi chỉ, lập tức đáp thuyền về kinh, đến Viện Cơ mật, xin đến Bộ
H́nh đợi tọâi” (*).
Tập tâu ấy, Viện thần hiện đương nghĩ biên phiếu
tâu lên hặc tội, nói: “Phú Lâm không đợi chỉ chuẩn cho, dám tự tiện về,
đi lại ở thành thị, không lo sợ chút nào, coi pháp lệnh Triều đ́nh như
tṛ trẻ con, sau này, người khác trông thế bắt chước, th́ thành sự thể
ǵ. Xin trước hết giải chức, xích lại giao cho Bộ H́nh nghiêm nghĩ, để
chỉnh đốn phép làm tôi”.
Vua chuẩn y lời tâu. Sau Bộ nghĩ, xin xử tội 100
trượng, cách chức, không được bổ dụng. Vua cho nghĩ xử ấy là nhẹ, bác đi,
giao cho Các thần giữ mực công bằng nghị xử lại. Các thần phúc tâu, nói:
“Xin chiểu điều luật “lầm lỡ việc quân” xử tội “trảm giam hậu””.
Vua lại nghĩ đến chú ruột y là Phạm Phú Thứ là cựu
thần của tiên triều, vốn có trọng vọng, đáng nên ban ân cho con cháu;
mới chuẩn cho cách chức, phát giao đi sai phái làm việc ở đạo Hữu trực
kỳ”.
(ĐNTL.CB., tập 37, Nxb. KHXH.,
1977, tr. 222).
(*) Biện pháp tàn ác gần như tru di tam tộc, tam đại
(giết cả người chết, bằng cách quật mồ, băm xương) này, thực ra khởi đầu
là do bọn tay sai đắc lực của Pháp khởi xướng, theo lệnh của Pháp, để
đàn áp, dập tắt phong trào khởi nghĩa Cần vương. Đó là bọn Trần Bá Lộc,
Nguyễn Thân. Bọn quan tỉnh, thực chất đă là tay sai của thực dân, cũng
thực thi biện pháp ấy.
ĐNTL.CB., tập 37, sđd., tr. 197 ghi rơ: “Vua [bù nh́n
Đồng Khánh – TXA. ct.] sai bọn khâm sai Phan Liêm tiến đi, (mang theo
300 lính tập và 100 binh giản). Phạm Phú Lâm v́ mẹ ốm và t́nh trạng giặc
[quân Cần vương – TXA. ct.] hoành hành, quấy nhiễu (quan viên hạt tỉnh
ấy dự bàn đánh dẹp, đốt nhà, bắt thân nhân, và đào phá phần mộ của giặc),
xin thôi chức phó khâm sai. Vua y cho”.
Chúng tôi phải chú thích thêm để thấy rằng, quân Cần
vương cũng ở trong cái thế phải dùng “độc trị độc”. Trong trường hợp này,
không thể trách quân Cần vương được!
Biện pháp dă man thời Trung cổ ấy, xin được hiểu với
cái nh́n lịch sử – cụ thể và phải cần phê phán mạnh mẽ theo quan điểm
luật pháp văn minh, công bằng, nhân đạo. Nói rơ hơn, hồi đó sự thể nó
như thế; sự thể ấy do nhiều yếu tố của thời bấy giờ chi phối, trong đó
có thói tục “một người làm quan cả họ được nhờ”, “một người làm giặc cả
họ phải tội”. Và nói rơ hơn, sự thể ấy khác hẳn với quan niệm hiện đại
của chúng ta: “ai làm ác nấy chịu, ai có công nấy hưởng”.
Ở đây, chúng tôi liên tưởng đến một trí thức tu sĩ
Thiên Chúa giáo nào đó, hiện nay, trong mươi năm gần đây, vẫn c̣n khoái
trá một cách bệnh hoạn, hả hê một cách man rợ khi xem phim Sám hối, ca
ngợi một người đàn bà thuộc chủng da trắng châu Âu đă trả thù kẻ cầm
quyền độc tài bằng cách ba lần quật mồ y! Vẫn là luật Trung cổ “mắt trả
mắt, răng trả răng” ư? Thật rùng rợn và đáng phẫn nộ! TXA.
59.
Là chánh khâm sai trong chiến dịch bôi
nhọ, triệt hạ uy tín Nguyễn Văn Tường,
Tôn Thất Thuyết và nhóm chủ chiến, nhằm dập tắt phong trào Cần vương,
cuối cùng Phan Liêm cũng như Phạm Phú Lâm, đều thú nhận: sĩ phu, nhân
dân sáng suốt, giàu ḷng yêu nước, không chịu khuất phục giặc Pháp và
ngụy triều Đồng Khánh, tháng 8 Đinh hợi (tháng 9 – tháng 10. 1886):
“Giáng chức viên mới
chuẩn cho lănh tổng đốc B́nh Thuận, Khánh Ḥa là Phan Liêm … […].
[…] … Lúc đầu Liêm
đă được mệnh mới, tức thời dâng sớ nói: “Hai tỉnh B́nh Thuận, Khánh Ḥa,
dân sau khi bị loạn, vỗ yên răn dẹp thật khó; Liêm này ḿnh ốm, tài
xoàng, sợ không kham nổi chức ấy, xin chọn bậc danh khanh tài cán, lăo
luyện đến nhận chức; sẽ xin vào kinh chiêm bái, về quê quán chữa bệnh,
để dưỡng tuổi trời”.
[…] … Sau khi đă về
tới nơi, Liêm lại nói: “Dân hạt ấy, sau khi bị bọn giặc [quân Cần vương
– TXA. ct.] mê hoặc [thức tỉnh, giác ngộ – TXA. ct.], chưa chắc mười
phần hết ngờ … […]”.
Vua [bù nh́n Đồng
Khánh – TXA. ct.] cho Liêm đă nhiều lần từ chối, không cần ủy gượng, đổi
sai Văn Phong thay thế, rồi đem Liêm giải chức, giao cho đ́nh thần trừng
trị.
Đ́nh thần xin xử tội
đánh 100 trượng, cách chức không được tŕnh bày.
Vua lại nghĩ, Liêm
đă từng làm tổng đốc, lại là đời đời làm quan, chuẩn cho giáng làm biên
tu, bắt về hưu”.
(ĐNTL.CB., tập 38, Nxb. KHXH.,
1978, tr. 12 – 13).
PHỤ LỤC:
CÁC TƯ LIỆU KHÁC
60.
Về năm mất của
Nguyễn Văn
Tường:
“Nguyễn
Văn Tường, người xă An Cư, huyện
Đăng Xương, tỉnh Quảng Trị; v́ tên trùng với quốc tính, không chịu đổi,
nên bị đi đày, hết hạn lại được phục hàm cử nhân; làm quan tới chức Cần
Chánh điện đại học sĩ, phụ trách đại thần, tấn phong Ḱ Vĩ quận công.
Sau sự biến năm Ất dậu (1885), chết ở bên Tây” [*].
(Cao Xuân Dục và Quốc sử quán triều Nguyễn, Quốc
triều hương khoa lục, bản dịch, Nxb. TP.HCM., 1993, tr. 297).
[*] Đảo TAHITI, thuộc địa của Pháp. Xem thêm: Aldophe
Delvaux, bài “Cái chết của Nguyễn Văn Tường, cựu phụ chính An
Nam”, Những người bạn cố đô Huế (BAVH.,1923), bản dịch, sđd., tr. 478 –
485. Chúng tôi đă có ư kiến ở bài nghiên cứu “Nguyễn Văn Tường
với nhiệm vụ lịch sử sau cuộc Kinh Đô Quật Khởi 05.7.1885” về bài báo
xuyên tạc và đầy thù hận này, đồng thời vẫn tiếp nhận để sử dụng các tư
liệu gốc (ở đây là văn bản hành chính) của thực dân Pháp trong bài báo
ấy. TXA.
61.
Giấy khai tử, thủ tục hộ tịch về sự
qua đời của Nguyễn Văn Tường:
“CÔNG SỞ PHÁP TẠI
CHÂU ĐẠI DƯƠNG
Đảo Tahiti
Thị chính Papeete
Số 60
Cái chết của ngài
Nguyễn Văn Tường
30.7.1886
Trích sao từ sổ hộ
tịch của xă Papeete (Tahiti)
năm 1886
GIẤY KHAI TỬ
Năm 1886,
30.7, 4 giờ chiều, trước mặt chúng tôi là Adolphe Marouo Poroi, là sĩ
quan hộ tịch của xă Papeete, đảo Tahiti. Có đến: 1. Alphonse Bonnet, là
quyền giám đốc Sở Nội vụ của các công sở Pháp tại châu lục, 57 tuổi; 2.
Etienne Deheaulme, quyền chánh văn pḥng của Sở Nội vụ, 26 tuổi; cả 2
người đều sống tại Papeete, đă khai với chúng tôi là sáng nay, lúc 4.h
30, ngài Nguyễn Văn Tường,
cựu thủ tướng của Vương quốc An Nam, khoảng 65 tuổi, cư trú tại Papeete,
không rơ tên cha mẹ, đă chết; chúng tôi lập giấy khai tử này, và đă kư
tên với các nhân chứng; mọi người đều đă đọc.
Chứng nhận trích sao
văn bản:
Papeete, 08.12.1922
Kư tên:
A. BONNET,
Thị trưởng
E. DEHEAULME, AM.
POROT.
(Aldophe Delvaux, bài “Cái chết của
Nguyễn Văn
Tường, cựu phụ chính An Nam”, Những người bạn cố đô Huế (BAVH.,1923),
bản dịch, sđd., tr. 482 – 483).
62.
Trích tin tức về sự qua đời của
Nguyễn Văn Tường trên Công báo
Tahiti, 05.8.1886, trang 202:
“Nguyễn
Văn Tường, cựu thủ tướng của Vương
quốc An Nam, đến Tahiti tháng hai vừa qua trên tàu Scorff, chết tại
Papeete, ngày thứ sáu, 30.7.1886, lúc 4.h 30 sáng.
Thân thể của ông
được liệm trong một quan tài bốn lớp, hiện được giữ tạm trong hầm nhà
xác để chở về Huế”.
(Aldophe Delveaux, bài “Cái chết của
Nguyễn Văn
Tường, cựu phụ chính An Nam”, Những người bạn cố đô Huế (BAVH.,1923),
bản dịch, sđd., tr. 481 – 482).
63.
Quyết định di chuyển thi hài
Nguyễn Văn Tường về Đại Nam:
“QUYẾT ĐỊNH CHO PHÉP
DI CHUYỂN THI HÀI
CỦA NGÀI TƯỜNG
(Công báo của thuộc
địa, 09.12.1886)
“Toàn quyền các công
sở Pháp tại châu Đại Dương,
Chiếu theo văn thư
của Bộ ngày 20.10.1886: chỉ định gửi về nước An Nam thi hài của ngài
Tường, chết tại Papeete ngày 30.7 vừa qua,
Chiếu theo đề nghị
của giám đốc Bộ Nội vụ,
Quyết định:
Cho phép di chuyển
thi hài của ngài Tường, chết tại Papeete, ngày 30.7 vừa qua.
Việc di chuyển sẽ
được thực hiện trong sự có mặt của ông chủ sự Y tế và ông trưởng ty Cảnh
sát hành chánh có phận sự lập biên bản về việc này.
Do quyết định của
toàn quyền:
Giám đốc Sở Nội vụ
A. MATHIVET.
Papeete, ngày
9.12.1886
Th. LACASCADE”.
(Aldophe Delvaux, bài “Cái chết của
Nguyễn Văn
Tường, cựu phụ chính An Nam”, Những người bạn cố đô Huế (BAVH.,1923),
bản dịch, sđd., tr. 482).
1. BAVH. (Bulletin
des amis du vieux Huế), “Những người bạn cố đô Huế”, 1914 – 1925, 11 tập
và 1 tập bản dẫn, Đặng Như Tùng, Bửu Ư, Hà Xuân Liêm, Phan Xuân Sanh,
Phan Xưng, Tôn Thất Hanh, Nguyễn Vi, Lê Văn, Trần Thanh, Nhị Xuyên,
Nguyễn Cửu Sà dịch, hiệu đính, biên soạn bổ sung bản dẫn, Nxb. Thuận Hóa,
1997 – 1998, 2001 – 2002.
2. Ban Tuyên huấn
Trung ương, Vụ Huấn học, “Lịch sử thế giới”, Nxb. Sách Giáo khoa Mác –
Lê-nin, 1975.
3. Bửu Kế, “Chuyện
Triều Nguyễn”, Nxb. Thuận Hóa, 1990.
4. Cao Xuân Dục,
“Quốc triều đăng khoa lục”, Trúc viên Lê Mạnh Liêu dịch, TT. HL. Bộ VHGD.
và TN., Sài G̣n, 1962, (bản in 1974).
5. Cao Huy Thuần,
“Đạo Thiên Chúa và chủ nghĩa thực dân [Pháp] tại Việt Nam [1957 – 1914]”
(Christianisme et colonialisme au Viet Nam, 1957 – 1914), luận án tiến
sĩ tại Pháp (1969), bản dịch, in ronéo của Đại học Vạn Hạnh, Sài G̣n,
1973; vừa được Nxb. Tôn Giáo tại Hà Nội xuất bản với bản dịch mới của
Nguyên Thuận (vào tháng 02.2003), với sự thay đổi nhan đề: “Các giáo sĩ
thừa sai và chính sách thuộc địa của Pháp tại Việt Nam (1957 – 1914)”
(Les missionnaires et la politique colonial française au Viet Nam, 1857
– 1914) [!?!].
6. Cao Xuân Dục và
Quốc sử quán triều Nguyễn, “Quốc triều hương khoa lục”, Nguyễn Thúy Nga,
Nguyễn Thị Lâm, Cao Tự Thanh dịch, hiệu đính, Nxb. TP. HCM., 1993.
7. Du Long, bài báo
“Khi giáo hoàng thống hối…”, Tuổi trẻ Chủ nhật, số 11 – 2000/848, 19.3 –
25.3.2000.
8. Dương Kinh Quốc,
“Việt Nam, những sự kiện lịch sử, 1858 – 1896”, tập 1, Nxb. KHXH., 1981.
9. Hoàng Tiến, “Chữ
quốc ngữ và cuộc cách mạng chữ viết thế kỉ 20”, Nxb. Thanh Niên, 2003.
10. Khoa Sử Trường
Cao đẳng Sư phạm TP. HCM., “Kỉ yếu Hội nghị Khoa học lịch sử về “Nhóm
chủ chiến Triều đ́nh Huế cuối thế kỉ XIX””, 11.1991.
11. Khoa Sử Trường
Đại học Sư phạm TP. HCM., “Kỉ yếu Hội nghị Khoa học lịch sử về “Nhóm chủ
chiến Triều đ́nh Huế và Nguyễn Văn Tường””,
20.6.1996.
12. Lam Giang, Vơ
Ngọc Nhă (sưu tầm), “Đặng Đức Tuấn, tinh hoa công giáo ái quốc”, giới
thiệu nguyên văn 2 hai sử ca: “Dậu Tuất niên gian phong hỏa kư sự” và
“Đại loạn năm Ất dậu”, Sài G̣n, 1971.
13. Lê Quang Thái,
“Thử nhận định lại nhân vật
Nguyễn Văn Tường
(1824 – 1886)”, tạp chí Cửa Việt số 13, tháng 4.1992.
14. Lương An (sưu
tầm, chỉnh lí, giới thiệu, chú thích), “Vè chống Pháp”, gồm vè “Thất thủ
Thuận An” và vè “Thất thủ kinh đô”, Nxb. Thuận Hóa, 1993.
15. Nhiều tác giả,
“Đại cương lịch sử Việt Nam”, toàn tập, Nxb. Giáo Dục, 2001.
16. Nhiều tác giả,
“Từ điển văn học”, 2 tập, Nxb. KHXH., 1983 – 1984.
17. Nguyễn Bá Thế,
Nguyễn Q. Thắng, “Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam”, Nxb. Văn Hóa tái
bản lần thứ 5, 1999.
18. Nguyễn Q. Thắng,
“Trần Văn Dư với phong trào Nghĩa hội”, Nxb. VHTT., 2001.
19. Nguyễn Đắc Xuân,
“Hương giang cố sự”, Tủ sách Sông Hương xb., 1987.
20. Nguyễn Đắc Xuân,
“Phụ chính đại thần Trần Tiễn Thành”, Nxb. Thuận Hoá, 1992.
21. Nguyễn Nhược Thị
Bích, “Hạnh Thục ca”, Trần Trọng Kim sưu tầm, phiên âm, Nxb. Tân Việt,
1950 (?).
22. Nguyễn Thị Mỹ
Hạnh, “Góp phần t́m hiểu một số vấn đề về Triều đ́nh Huế giai đoạn 1883
– 1885 qua tác phẩm Hạnh Thục ca của Nguyễn Nhược Thị Bích”, luận văn
tốt nghiệp, khoá 1996 – 2000, Khoa Sử ĐHSP. TP. HCM., tháng 5. 2000.
23 Nguyễn Thiệu Lâu,
Quốc sử tạp lục, Nxb. Mũi Cà Mau, 1994.
24. Nguyễn Văn Hồng,
Vũ Dương Ninh, Vơ Mai Bạch Tuyết, “Lịch sử cận đại thế giới”, 3 tập, Nxb.
ĐH. và TTCN., 1985 – 1987.
25. Nguyễn Văn Kiệm
(Viện Nghiên cứu tôn giáo), “Sự du nhập của Thiên Chúa giáo vào Việt
Nam, từ thế kỷ XVII đến thế kỉ XIX”, Hội KHLS. VN., TT. UNESSCO. Bảo tồn
và phát triển VHDT. Việt Nam, 2001.
26. Nguyễn Văn Mại (Tiểu
Cao), “Lô Giang tiểu sử”, Nguyễn Hy Xước dịch, bản in ronéo (b́a in
typo), 1961.
27. Nguyễn
Văn Tường, “Di cảo
Nguyễn
Văn Tường”, Trần Đại Vinh dịch, Nxb.?,
1991.
28. Trần Xuân An chú
thích, biên soạn, “Ḱ Vĩ phụ chính đại thần
Nguyễn Văn Tường
(1824 – 1886), thơ – Vài nét về con người, tâm hồn và tư tưởng”, [Nguyễn
Văn Tường (tác giả Ḱ Vĩ quận công
thi tập)], Trần Viết Ngạc, Trần Đại Vinh, Vũ Đức Sao Biển, TS. Vơ Xuân
Đàn, GS. Đoàn Quang Hưng, Nguyễn Tôn Nhan, TS. Ngô Thời Đôn sưu tầm,
khảo luận, phiên dịch, hiệu đính…, chưa xuất bản.
29. Nguyễn
Văn Tường, “Ḱ Vĩ quận công thi tập”,
65 bài thơ chữ Hán, Trần Viết Ngạc sưu tầm, giới thiệu, Trần Đại Vinh,
Vũ Đức Sao Biển dịch, giới thiệu [mới 45 bài], tư liệu Hội nghị Khoa học
lịch sử “Nhóm chủ chiến Triều đ́nh Huế và
Nguyễn Văn Tường”,
20.6.1996, ĐHSP. TP.HCM..
30. Phạm Văn Sơn,
“Việt Nam cách mạng cận sử”, Sài G̣n, 1963.
31. Phan Bội Châu,
“Những tác phẩm của Phan Bội Châu”, Chương Thâu dịch, Văn Tạo chủ biên,
Hồ Song giới thiệu, Nxb. KHXH., 1982.
32. Phan Khoang,
“Trung Quốc sử lược”, ấn quán Hồng Phát, bản in lần thứ 3, 1958.
33. Phan Khoang,
“Việt Nam Pháp thuộc sử (1858 – 1945)”, Phủ QVK. ĐTVH. (Sài G̣n), bản in
lần thứ hai, 1971.
34. Phan Trần Chúc,
“Vua Hàm Nghi”, Nxb. Thuận Hóa tái bản, 1995.
35. Quốc sử quán
triều Nguyễn, “Châu bản triều Tự Đức (1847 – 1883)”, Vũ Thanh Hằng, Trà
Ngọc Anh, Tạ Quang Phát tuyển chọn và dịch (lược thuật), Ban Văn học
thuộc Viện KHXH. TP. HCM. in ronéo, 1979; Trung tâm Nghiên cứu Quốc học
chỉnh lí, Nxb. Văn Học, 5.2003.
36. Quốc sử quán
triều Nguyễn, “Đại Nam liệt truyện, chính biên”, bản dịch Tổ Phiên dịch
Viện Sử học, 4 tập, Nxb. Thuận Hóa, 1993.
37. Quốc sử quán
triều Nguyễn, “Đại Nam thực lục, chính biên”, các tập từ 11 đến 38, bản
dịch Tổ Phiên dịch Viện Sử học, Nxb. KHXH., 1964 – 1978.
38. Quốc sử quán
triều Nguyễn, Tổ Phiên dịch Viện Sử học, “Những trang Đại Nam thực lục
về KVPCĐT. Nguyễn Văn Tường
và các sự kiện thời ḱ đầu chống thực dân Pháp (1858 – 1885)”, Trần Xuân
An chọn lọc, chưa xuất bản.
39. Quốc sử quán
triều Nguyễn (QSQTN.), “Quốc triều chính biên toát yếu”, bản dịch tiếng
Việt của QSQTN., Nxb. Thuận Hóa, 1998.
40. Thái Vũ, “Nguyễn
Văn Tường và vai tṛ của ông trong
cuộc chống Pháp cuối thế kỷ XIX”, tạp chí Cửa Việt số 13, tháng 4. 1992.
41. Tự Đức, “Tự Đức
thánh chế văn tam tập”, quyển IX – XIV, tập 2, Bùi Tấn Niên, Trần Tuấn
Khải phiên dịch, Tủ sách Cổ văn, UBDT. PQVK. ĐTVH. xb., Sài G̣n, 1973.
42. Tự Đức, “Thơ văn
Tự Đức”, 3 tập, Nxb. Thuận Hóa tái bản, 1996.
43. Trần Ngọc Thêm,
“Cơ sở văn hóa Việt Nam”, Trường ĐHTH. TP. HCM. xb.,1995.
44. Trần Tam Tỉnh,
“Thập giá và lưỡi gươm”, Vương Đ́nh Bích dịch từ nguyên tác tiếng Pháp,
Nxb. Trẻ, 1988.
45. Trần Thị Kim Hoa,
“Góp phần t́m hiểu vua Hiệp Hoà”, luận văn tốt nghiệp, khoá 1991 –1995,
Khoa Sử ĐHSP. TP.HCM., tháng 4.1995.
46. Trần Trọng Kim,
“Việt Nam sử lược”, bản in lần thứ 7, Nxb. Tân Việt, 1964.
47. Trần Văn Giàu,
“Chống xâm lăng”, trọn bộ 3 tập, Nxb. TP.HCM. tái bản, 2001.
48. Trần Văn Giàu,
“Hệ ư thức phong kiến và sự thất bại của nó trước nhiệm vụ lịch sử”, Nxb.
TP.HCM., 1993.
49. Trần Văn Giàu,
“Hệ ư thức tư sản và sự thất bại của nó trước nhiệm vụ lịch sử”, Nxb.
KHXH., 1975.
50. Trần Xuân An,
“Phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường
(1824 – 1886)”, truyện kí – khảo cứu lịch sử, hai tập I & II, 2002, hai
tập III & IV, 2003; Nxb. Văn Nghệ, TP.HCM., 2004.
51.Trần Xuân An,
“Tiểu sử biên niên Ḱ Vĩ phụ chính đại thần
Nguyễn Văn Tường
(1824 – 1886), “kẻ thù lớn nhất của chủ nghĩa thực dân Pháp””, chưa xuất
bản.
52. Tsuboi
(Yoshiharu), “Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa”, Nguyễn Đ́nh
Đầu và nhóm cộng tác viên dịch, Ban KHXH. Thành ủy TP. HCM. xb., 1990.
53. Viện Văn học (nhiều
tác giả, GS. Nguyễn Huệ Chi chủ biên), “Thi hào Nguyễn Khuyến, đời và
thơ”, Nxb. KHXH., 1992.
54. Vụ Bảo tồn bảo
tàng, “Niên biểu Việt Nam”, in lần thứ 4, Nxb. Văn hóa dân tộc, 1999.
(*) Về những sách báo tham khảo trên đây, người biên
soạn xin cảm ơn các tác giả, soạn giả, và chỉ tiếp nhận những tư liệu,
ư kiến xét thấy là đúng (có chú thích xuất xứ rất cụ thể), trên cơ sở
lấy Đại Nam thực lục chính biên các kỉ IV, V,VI làm chuẩn cứ. Nói
như vậy, có nghĩa là, về những ư tưởng không ghi xuất xứ, bản quyền
những ư tưởng ấy không của ai khác, mà chính của người biên soạn (Trần
Xuân An). Cũng có những chỗ tôi ghi xuất xứ, nhưng chỉ để phê phán, đả
phá ngay trong cuốn sách này..
Ngoài ra, trên đây, cũng đă liệt kê một số cuốn sách
khác do chúng tôi viết, biên soạn. Qua đó, cũng như vậy, chúng tôi đă
trực tiếp hoặc gián tiếp tranh luận, có chỗ đành phải mạn phép đả phá
trên tinh thần khoa học, dân chủ trong học thuật, và theo phương
châm “học thuật là cuộc đua tiếp sức”.
Và có lẽ cũng cần nói thẳng: Những cuốn sách của
các tác giả mà tôi đă liệt kê trên, được viết theo nhiều quan điểm,
khuynh hướng chính trị (thậm chí là mưu đồ chính trị) khác nhau và ảnh
hưởng bởi những nguồn tư liệu không giống nhau (sách báo của một số tác
giả Trung Hoa, Nhật, Pháp, Thiên Chúa giáo, Đàng Ngoài, maoism, kể cả
“ấu trĩ tả khuynh”…) và hầu hết đều thiếu tinh thần khoa học, có vấn đề
trong phương pháp nghiên cứu sử học, rất đáng phàn nàn, trách cứ.
TXA.
(**) Liệt kê theo nguyên tắc nghiên cứu khoa học,
khi viết về một đề tài nghiên cứu nào đó, người viết phải nắm vững
lịch sử đề tài (đă có bao nhiêu người viết về đề tài ấy và họ đă
viết như thế nào).
Cũng cần khẳng định: Trong khoa học, chân lí
và sự thật không thuộc về số đông. Nhiều nhà khoa học chân chính đă tâm
đắc điều đó.
Địa chỉ người biên
soạn:
TRẦN XUÂN AN
71B Phạm Văn Hai
(cửa hiệu tạp phẩm
Phan Huyên)
Phường 3, Tân B́nh
Thành phố Hồ Chí
Minh.
ĐT: [08].8453955
& 0908 803 908
Điện thư:
tranxuanan_vn@yahoo.com